Kỷ Dậu, Ất Dậu, Nhâm Tuất: vì sao sử Việt hay gọi sự kiện bằng tên năm can chi
Chiến thắng Kỷ Dậu, kinh thành thất thủ năm Ất Dậu, vụ án năm Nhâm Tuất: bài giải thích cách sử Việt ghi năm bằng niên hiệu và can chi, và bẫy lệch sáu mươi năm
Chiến thắng Kỷ Dậu, kinh thành thất thủ năm Ất Dậu, vụ án năm Nhâm Tuất: bài giải thích cách sử Việt ghi năm bằng niên hiệu và can chi, và bẫy lệch sáu mươi năm
Trước khi dùng để ghi năm, can chi là cách người đời Thương đánh số ngày trên mai rùa, xương thú. Bài đọc lại tư liệu giáp cốt văn và điều giới sử học rút ra.
Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý: chữ gốc là gì, đời Hán giảng ra sao theo vòng sinh trưởng của cây cỏ, và vì sao còn nhiều tranh luận.
Tý, Sửu, Dần, Mão chưa từng có nghĩa là chuột, trâu, hổ, mèo. Bài kể nghĩa chữ của mười hai địa chi, vì sao có số mười hai và đời Hán giảng chúng ra sao.
Con vật được ghép vào địa chi muộn hơn chữ viết cả nghìn năm. Bài lần theo thẻ tre đời Tần, sách Luận hành đời Hán và những giả thuyết về nguồn gốc con giáp.
Vì sao vòng can chi dài đúng sáu mươi, lục giáp là gì, người xưa ghi năm trước khi dùng can chi ra sao và vì sao mừng thọ sáu mươi gọi là hoàn giáp.