Cát, hung, hối, lận, vô cữu trong Kinh Dịch: đọc lời đoán như thái độ, không như điềm
Cát, hung, hối, lận, vô cữu là năm lời đoán gặp khắp Kinh Dịch. Hệ từ truyện giải chúng như tượng của được mất, lo nghĩ, sửa lỗi. Bài đọc từng chữ theo văn bản.
Cát, hung, hối, lận, vô cữu là năm lời đoán gặp khắp Kinh Dịch. Hệ từ truyện giải chúng như tượng của được mất, lo nghĩ, sửa lỗi. Bài đọc từng chữ theo văn bản.
Quẻ Thái đặt đất trên trời, quẻ Bĩ đặt trời trên đất. Bài đọc cặp quẻ đối này qua lời Thoán, Đại tượng và các nhà chú giải: thông và tắc khác nhau ở đâu.
Quẻ Khiêm đặt núi dưới đất, hình ảnh của sự khiêm tốn. Bài đọc lời quẻ, Thoán truyện, sáu hào và vì sao người xưa coi đây là quẻ hiếm có không hào nào xấu.
Quẻ Truân là quẻ thứ ba, ngay sau Càn và Khôn. Bài đọc chữ Truân, tượng mây sấm, lời quẻ và vì sao người xưa xem buổi khởi đầu nào cũng rối và khó.
Quẻ Mông nói về sự non nớt và việc khai sáng. Bài đọc lời quẻ "không phải ta tìm trẻ, trẻ tìm ta", Đại tượng suối dưới núi và các hào bàn về cách dạy người.
Quẻ Phục có một hào dương nằm dưới năm hào âm, tượng sấm trong lòng đất. Bài đọc lời quẻ, câu "thấy được tâm trời đất" và cuộc tranh luận giữa các nhà chú giải.
Cách là thay da đổi lông, Đỉnh là cái vạc nấu ăn và tế lễ. Bài đọc cặp quẻ 49, 50 như một suy ngẫm về đổi mới: khi nào nên đổi và đổi xong thì giữ bằng gì.
Tổn là bớt, Ích là thêm, nhưng bớt của ai, thêm cho ai mới là điều cặp quẻ 41, 42 muốn nói. Bài đọc lời quẻ, Đại tượng và bài học về được mất của người xưa.
Ký Tế là đã qua sông, Vị Tế là chưa qua sông. Kinh Dịch không kết thúc ở quẻ hoàn tất mà ở quẻ dở dang. Bài đọc cặp quẻ cuối và ý nghĩa của sự chưa xong.
Quẻ Khốn là đầm đã cạn nước, hình ảnh của cảnh bị vây, cùng quẫn. Bài đọc lời quẻ, câu "trí mệnh toại chí" và vì sao Hệ từ gọi Khốn là chỗ thử thách của đức.