Chuyên mục
Khám phá nội dung theo từng chủ đề
Âm dương và Thái cực
Đi sâu từng khái niệm chứ không lặp bài tổng quan: chữ âm – dương gốc nghĩa là sườn núi khuất nắng – hướng nắng, các cặp đối trong Hệ từ truyện, "Nhất âm nhất dương chi vị đạo"; Thái cực, Vô cực và Thái cực đồ của Chu Đôn Di; hình vẽ âm dương ngư (song ngư) xuất hiện muộn và được phổ biến thế nào; âm dương tiêu trưởng, chuyển hoá; âm dương trong tiếng Việt (trống – mái, đực – cái, cõi âm – cõi dương), những cách hiểu sai "âm là xấu", "cân bằng âm dương là 50/50".
10 bài viếtNgũ hành: từng hành và hệ quy loại
Mỗi bài một hành (Mộc, Hoả, Thổ, Kim, Thuỷ: chữ gốc, mùa, phương, màu, vị, âm trong hệ quy loại) hoặc một quan hệ: tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ, chế hoá; vì sao Thổ khi ở giữa khi ở cuối hạ; ngũ hành trong Hồng Phạm (Thượng thư) khác ngũ hành đời Hán ra sao; bảng quy loại ngũ phương – ngũ sắc – ngũ âm – ngũ vị – ngũ thường được ghép dần qua các đời; nạp âm như một hệ ghép âm luật (lịch sử, không tra mệnh).
10 bài viếtBát quái, Hà đồ, Lạc thư
Mỗi bài một quẻ đơn (Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài: tượng, đức, quan hệ gia đình theo Thuyết quái), Tứ tượng – Bát quái sinh ra từ Thái cực theo Hệ từ; bát quái Tiên thiên (Phục Hy) và Hậu thiên (Văn Vương) — truyền thống nói gì, Thiệu Ung dựng sơ đồ đời Tống ra sao; Hà đồ – Lạc thư: truyền thuyết long mã, rùa thần, bản đồ chấm xuất hiện từ đời Tống, tranh luận Chu Hy với Lưu Mục, Hồ Vị phản bác đời Thanh; Lạc thư và ma phương 3×3 (góc toán học).
10 bài viếtKinh Dịch: đọc từng quẻ như một ý tưởng
Mỗi bài một quẻ hoặc một cặp quẻ đối (Thái – Bĩ, Tổn – Ích, Ký Tế – Vị Tế, Khiêm, Truân, Mông, Phục, Cách, Đỉnh…) đọc như suy ngẫm triết lý: tên quẻ nghĩa gì, tượng, ý chính của Thoán và Đại tượng theo các nhà chú giải, ý tưởng còn dùng được hôm nay (thời, trung chính, khiêm, đổi mới); các khái niệm lớn của Dịch: biến dịch – bất dịch – giản dịch, "thời", "cùng tắc biến", cát hung hối lận hiểu như thái độ chứ không phải điềm.
10 bài viếtDịch học qua các đời: người đọc Dịch
Lịch sử đọc và chú giải Kinh Dịch: Chu Dịch – Liên Sơn – Quy Tàng (truyền thuyết và thẻ tre Vương Gia Đài), Thập Dực và câu hỏi tác giả, tượng số đời Hán (Kinh Phòng, Mạnh Hỉ), Vương Bật quét tượng số, Trình Di Dịch truyện, Chu Hy Chu Dịch bản nghĩa, Thiệu Ung Hoàng cực kinh thế; bản lụa Mã Vương Đôi, thẻ tre Thượng Bác; Dịch học Việt Nam: Lê Quý Đôn, Đặng Thái Phương diễn Nôm, Phan Bội Châu Chu Dịch, các bản dịch – chú giải thế kỷ XX; Leibniz, Richard Wilhelm, Jung đọc Dịch.
10 bài viếtLịch sử vũ trụ luận phương Đông
Học thuyết hình thành và đổi thay ra sao: tư tưởng âm dương trong Quốc ngữ, Tả truyện; Âm dương gia và Trâu Diễn (ngũ đức chung thuỷ), Lã Thị Xuân Thu, Hoài Nam Tử, Đổng Trọng Thư với thiên nhân cảm ứng, Bạch Hổ Thông, sấm vĩ đời Hán và phê phán của Vương Sung (Luận hành); lý – khí đời Tống – Minh (Trương Tải, Chu Hy) ở phần vũ trụ luận; thiên – địa – nhân, thiên nhân hợp nhất; các triều đại dùng ngũ đức để chọn màu, chọn niên hiệu.
10 bài viếtCan chi, tiết khí và bầu trời người xưa
Nguồn gốc, không phải phép tính: can chi ghi ngày trên giáp cốt văn đời Thương, nghĩa chữ từng can – từng chi theo Sử ký, Thuyết văn, mười hai con giáp ghép vào chi từ khi nào và vì sao Việt Nam có Mão – Mèo, Sửu – Trâu; vòng lục thập hoa giáp như hệ đếm; 24 tiết khí trong Hoài Nam Tử, cách chia bình khí – định khí, tiết khí của người Việt trong ca dao; Tứ tượng, Nhị thập bát tú, sao Bắc Đẩu và cách người xưa đọc trời; niên hiệu và năm can chi trong sử Việt.
10 bài viếtLão Tử, Trang Tử và Đạo gia
Đạo gia như hệ tư tưởng: Lão Tử – người và sách (truyền thuyết Hàm Cốc, Sử ký chép gì, bản thẻ tre Quách Điếm, bản lụa Mã Vương Đôi), từng khái niệm Đạo, Đức, vô vi, tự nhiên, nhu thắng cương, phản giả đạo chi động; Trang Tử – Tiêu dao du, Tề vật luận, mộng hồ điệp, ngụ ngôn bào đinh; Hoàng Lão đời Hán, Huyền học Nguỵ Tấn (Vương Bật, Quách Tượng); Đạo gia khác Đạo giáo thế nào; dấu ấn Lão – Trang ở Việt Nam: thiền Lý – Trần, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, chữ "nhàn".
10 bài viếtHọc thuyết trong y học, ẩm thực, kiến trúc, nghệ thuật Việt
Học thuyết đi vào đời sống Việt nhìn từ lịch sử – văn hoá: Hoàng Đế Nội Kinh như văn bản, Tuệ Tĩnh "Nam dược trị Nam nhân", Hải Thượng Lãn Ông viết về âm dương thuỷ hoả (lý luận, không bài thuốc); quan niệm hàn – nhiệt trong mâm cơm, gia vị đi kèm; trời tròn đất vuông ở đàn Nam Giao, bánh chưng bánh dày; ngũ sắc ở cờ hội, cờ ngũ hành, áo tế; ngũ cung trong âm nhạc truyền thống; hoạ tiết âm dương, bát quái trên đồ gốm, kiến trúc; Kinh Dịch trong văn chương, tục ngữ ("bĩ cực thái lai"); thuyết "Kinh Dịch gốc Việt" như một tranh luận.
10 bài viếtĐối chiếu với triết học phương Tây và khoa học
Đặt học thuyết phương Đông cạnh phương Tây và khoa học, công bằng hai phía: Heraclitus và Dịch (biến đổi), Hegel – biện chứng và âm dương, Empedocles – Aristotle tứ nguyên tố (bài so sánh hẹp, không lặp bài tổng quan), Leibniz, Jung "đồng thời tính", Niels Bohr chọn Thái cực trên huy hiệu, Joseph Needham; học thuyết là hệ phân loại – biểu tượng chứ không phải lý thuyết thực nghiệm: ngũ hành và bảng tuần hoàn, 24 tiết khí và thiên văn; bóc tách ngộ nhận "năng lượng ngũ hành", "Kinh Dịch tiên đoán ADN, máy tính", "khoa học đã chứng minh âm dương".
10 bài viết