HocThuyet.comHọc Thuyết
Âm dương và Thái cực

Chữ âm, chữ dương nghĩa gốc là gì: từ sườn núi khuất nắng đến cặp phạm trù triết học

Trước khi thành triết học, âm là phía khuất nắng, dương là phía hướng nắng. Bài lần theo chữ viết, địa danh và văn bản cổ để thấy hai chữ ấy đi xa thế nào.

Early morning in a mountain valley in Lao Cai, one slope lit by golden sun and the opposite slope in cool blue shadow, a small stream between, wide landscape shot

Ở nghĩa gốc, "dương" là phía được nắng chiếu, "âm" là phía khuất nắng: sườn núi quay về mặt trời là dương, sườn bên kia là âm; bờ sông cũng chia âm dương theo cùng cách nhìn. Hai chữ này ban đầu tả một hiện tượng mà bất cứ người làm nông, dựng nhà hay chọn chỗ ở nào cũng nhận ra, chứ chưa phải hai "lực" vũ trụ. Từ cái nghĩa rất cụ thể ấy, qua nhiều thế kỷ, chúng mới được nâng lên thành cặp phạm trù dùng để nói về trời đất, mùa màng, con người.

Bài này không nhắc lại phần tổng quan "thuyết âm dương là gì" mà đi theo một câu hỏi hẹp hơn: hai chữ ấy xuất hiện trong những văn bản nào, mang nghĩa gì ở từng chặng, và dấu vết nghĩa gốc còn nằm ở đâu trong địa danh, trong tiếng nói hôm nay. Những chỗ mà giới nghiên cứu còn bàn, bài ghi rõ là còn bàn.

Nhìn mặt chữ: đồi đất, mặt trời và mây

Cả hai chữ âm và dương trong chữ Hán đều có bộ phụ ở bên trái, một bộ thủ vẽ hình gò đất, sườn đồi. Phần bên phải mới làm nên khác biệt. Ở chữ dương, phần ấy thường được giảng là hình mặt trời đứng trên đường chân trời, có tia sáng toả xuống; ở chữ âm, phần bên phải gắn với hình mây che. Đọc gộp lại, giới văn tự học thường diễn: dương là gò đồi có nắng, âm là gò đồi bị mây che, bị khuất bóng.

Cách giảng này có chỗ chắc và chỗ chưa chắc. Chắc là bộ phụ, vì nó có mặt ở hàng loạt chữ khác chỉ địa hình như đê, đồi, hiểm trở. Chưa chắc là chi tiết hình mặt trời và hình mây ở dạng chữ cổ nhất, vì dạng chữ trên giáp cốt và kim văn của hai chữ này không nhiều, và các nhà nghiên cứu văn tự không phải lúc nào cũng đồng ý về từng nét. Người đọc nên coi lời giảng "mặt trời trên gò, mây trên gò" là một cách nhớ hợp lý, không phải một kết luận đã đóng.

Điều quan trọng hơn chuyện từng nét là hướng nghĩa: cả hai chữ đều sinh ra từ việc nhìn địa hình dưới ánh sáng. Chúng không bắt đầu từ ý niệm trừu tượng về đực cái, tốt xấu hay sống chết. Những lớp nghĩa đó đến muộn hơn nhiều, và hiểu được điểm xuất phát giúp ta tránh gán cho hai chữ những thứ chúng chưa bao giờ mang ở buổi đầu.

Thuyết văn giải tự giảng hai chữ ra sao

Bộ từ điển chữ Hán có hệ thống sớm nhất còn lại là Thuyết văn giải tự của Hứa Thận, soạn đời Đông Hán. Đại ý lời giảng trong sách: âm là tối, là phía nam của sông và phía bắc của núi; dương là cao và sáng. Cách định nghĩa "nam sông, bắc núi" nghe lạ lúc đầu, nhưng chỉ cần nghĩ tới đường đi của mặt trời ở vùng Hoàng Hà là thấy hợp lý.

Ở vùng đất nằm trên chí tuyến bắc, mặt trời giữa trưa luôn lệch về phía nam. Một ngọn núi vì thế có sườn nam đón nắng, sườn bắc chịu bóng. Một con sông chảy theo hướng đông tây thì bờ bắc là bờ dốc lên quay mặt về phía nam, đón nắng; bờ nam là bờ quay lưng lại mặt trời. Do đó núi lấy phía nam làm dương, sông lấy phía bắc làm dương, và ngược lại cho phía âm. Lời giảng của Hứa Thận vì vậy không phải một quy ước tuỳ tiện mà là ghi lại kinh nghiệm quan sát của người sống trên lưu vực sông lớn.

Đến đời Đông Hán, âm dương đã là khái niệm triết học quen thuộc từ lâu. Việc Hứa Thận vẫn giảng hai chữ bằng nghĩa địa hình cho thấy người xưa ý thức rằng nghĩa cụ thể mới là gốc, nghĩa triết học là nghĩa phái sinh. Đây là một điểm đáng nhớ khi đọc các sách hiện đại giảng âm dương thẳng như "hai nguồn năng lượng" mà bỏ qua chặng đường dài của chữ.

Dấu vết nghĩa gốc trong địa danh

Cách đặt tên đất theo phía nắng, phía bóng còn lưu lại rõ trong nhiều địa danh Đông Á. Bảng dưới chọn những tên quen, kèm cách đọc theo nghĩa gốc.

Địa danhCấu tạoĐọc theo nghĩa gốc
Lạc Dươngsông Lạc + dươngđất ở phía bắc sông Lạc, bờ đón nắng
Hoa Âmnúi Hoa + âmđất ở phía bắc núi Hoa Sơn, sườn khuất nắng
Hành Dươngnúi Hành + dươngđất ở phía nam núi Hành Sơn
Giang Âmsông (Trường Giang) + âmđất ở phía nam con sông lớn
San'in và San'yō (Sơn Âm, Sơn Dương)núi + âm / dươnghai vùng của Nhật Bản ở hai phía dãy núi miền Chūgoku: phía bắc gọi Sơn Âm, phía nam gọi Sơn Dương

Những tên này cho thấy âm dương trong đời sống thường ngày từng là một từ chỉ phương vị, giống như ta nói "bên này núi", "bên kia sông". Người đặt tên không gửi gắm điều tốt xấu: Hoa Âm không phải đất kém hơn Lạc Dương chỉ vì mang chữ âm.

Ở Việt Nam, cách đặt tên kiểu này ít thấy hơn vì phần lớn địa danh có gốc Việt hoặc đặt theo tên xã, tên sông. Điều đó không có nghĩa người Việt thiếu ý niệm phía nắng phía bóng; chỉ là ý niệm ấy được nói bằng từ thuần Việt như sườn nắng, sườn râm, bên khuất gió.

Kinh Thi: xem âm dương để chọn chỗ ở

Một trong những lần chữ âm dương đi cặp với nhau sớm nhất nằm trong Kinh Thi, bài Công Lưu thuộc phần Đại Nhã. Bài thơ kể chuyện Công Lưu, một thủ lĩnh của tộc Chu, đưa người dời đến đất Bân. Trong đoạn tả việc chọn đất, có câu "tướng kỳ âm dương", đại ý là xem xét phía âm, phía dương của vùng đồi. Ngay trước đó là chi tiết đo bóng nắng trên gò cao.

Đọc câu này trong mạch bài thơ, âm dương rõ ràng là phía khuất và phía có nắng của địa hình, được xem xét để biết chỗ nào dựng nhà, chỗ nào làm ruộng, nguồn nước ở đâu. Không có dấu hiệu nào cho thấy chữ đã mang nghĩa vũ trụ luận. Nhiều sách phong thủy về sau dẫn câu này như "bằng chứng phong thủy có từ thời Chu"; cách dẫn ấy đúng ở chỗ việc quan sát địa hình để chọn chỗ ở là rất cổ, nhưng dễ gây hiểu lầm nếu ngầm hiểu rằng cả hệ thống phong thủy sau này đã có sẵn từ đó.

Bài Công Lưu có giá trị đặc biệt vì nó cho thấy chữ âm dương đi vào ngôn ngữ thơ ca, tức là vào kho từ chung, trong khi vẫn giữ nghĩa cụ thể. Một khái niệm muốn trở thành triết học trước hết phải là một từ mà ai cũng hiểu.

Âm là trời u ám, dương là nắng ấm: lớp nghĩa thời tiết

Bên cạnh nghĩa địa hình, các bài thơ trong Kinh Thi còn cho thấy một lớp nghĩa thứ hai, gần gũi không kém: thời tiết. Bài Cốc phong thuộc phần Bội phong mở đầu bằng cảnh gió thổi từ hang núi, kèm cụm "dĩ âm dĩ vũ", đại ý trời u ám rồi đổ mưa. Ở đây chữ âm không nói về sườn núi mà nói về bầu trời bị mây che, ngày thiếu nắng.

Bài Thất nguyệt thuộc phần Bân phong, một bài thơ dài tả công việc nhà nông quanh năm, có câu "xuân nhật tái dương", đại ý ngày xuân bắt đầu ấm nắng, rồi tiếng chim vàng anh cất lên. Chữ dương ở đây là nắng ấm của mùa xuân, cái ấm khiến cây cối và người làm ruộng bắt đầu một mùa mới.

Đặt hai lớp nghĩa cạnh nhau, ta thấy âm dương thời ấy chạy giữa hai trục rất đời thường: không gian (phía nắng, phía bóng) và thời tiết (ngày nắng ấm, ngày u ám). Cả hai trục đều xoay quanh ánh sáng mặt trời. Từ đây, bước tiếp theo là coi âm và dương như hai thứ "khí" của trời đất, có thể dồn nén, lệch lạc và gây ra hiện tượng; các ghi chép thời Xuân Thu về khí âm dương, như lời giải thích một trận động đất trong Quốc ngữ hay thuyết sáu khí của thầy thuốc Hoà trong Tả truyện, là chặng chuyển tiếp ấy. Trong thuyết sáu khí, âm dương còn đứng ngang hàng với gió, mưa, tối, sáng, tức chưa phải cặp bao trùm vạn vật.

Từ hai khí thành cặp phạm trù bao trùm

Đến cuối thời Chiến Quốc, âm dương đã trở thành khung để nói về mọi sự đối đãi. Thiên Thiên hạ trong sách Trang Tử, khi điểm lại các kinh sách, có câu được dẫn rất nhiều: "Dịch dĩ đạo âm dương", nghĩa là Kinh Dịch dùng để nói về âm dương. Điều thú vị là phần Kinh của Chu Dịch, tức lời quẻ và lời hào, hầu như không dùng cặp chữ này; nó xuất hiện dày đặc ở phần Truyện, nhất là Hệ từ và Thuyết quái, vốn được nhiều nhà nghiên cứu xếp vào thời Chiến Quốc hoặc muộn hơn.

Cùng giai đoạn ấy, một nhóm học giả về sau được gọi là Âm dương gia, gắn với tên Trâu Diễn, đã đem âm dương ghép với ngũ hành để giải thích sự thay đổi của mùa, của triều đại. Sang đời Hán, sự ghép nối này được hệ thống hoá thành một bức tranh vũ trụ lớn. Lịch sử của bước ghép ấy là một câu chuyện riêng; ở đây chỉ cần thấy rằng khi được ghép vào hệ thống, âm dương đã mang một sức nặng mà chữ "sườn núi khuất nắng" ban đầu không thể hình dung.

Cũng chính ở chặng này, âm dương bắt đầu gánh thêm những liên tưởng xã hội như trên dưới, quân thần, chồng vợ. Đó là lớp nghĩa do con người gán vào trong những bối cảnh cụ thể, và nhận ra nó là lớp gán thêm giúp ta đọc các văn bản cổ một cách tỉnh táo, thay vì coi mọi liên tưởng ấy là bản chất của âm dương.

Nghĩa gốc giúp gì cho người đọc hôm nay

Âm dương là quan hệ, không phải vật. Cùng một ngọn núi có cả âm lẫn dương; nắng chuyển thì phía bóng cũng chuyển. Hiểu từ nghĩa gốc, ta khó còn nói một vật "thuần âm" hay "thuần dương" như nói về một chất.

Âm không đồng nghĩa với xấu. Sườn khuất nắng giữ ẩm, có rừng, có suối. Người làm nông nào cũng biết mỗi phía có cái lợi riêng. Liên tưởng âm với điều xấu là lớp nghĩa đến muộn và không có trong chữ gốc.

Âm dương gắn với vị trí người quan sát và với thời gian. Phía nắng buổi sáng có thể thành phía bóng buổi chiều. Ý niệm tiêu trưởng, chuyển hoá mà các đời sau giảng rất kỹ đã nằm sẵn trong hình ảnh ánh nắng di chuyển trên sườn đồi.

Văn bản có tầng lớp. Khi gặp một câu trích về âm dương, nên hỏi câu đó thuộc sách nào, đời nào. Cùng hai chữ nhưng ở Kinh Thi, ở Tả truyện và ở sách đời Hán là ba tầng nghĩa khác nhau.

Nhiều lời khẳng định hiện đại thiếu gốc. Những câu như "âm dương là hai dạng năng lượng" không có trong văn bản cổ. Người xưa nói về khí, về sáng tối, về phía nắng phía bóng; dịch sang ngôn ngữ vật lý hiện đại là một bước diễn giải, cần ghi rõ là diễn giải.

Câu hỏi thường gặp

Chữ âm và chữ dương có trên giáp cốt văn không?

Có những dạng chữ được nhiều nhà nghiên cứu nhận là tiền thân của hai chữ này, nhưng số lượng ít và cách đọc từng nét còn được bàn. Nghĩa trong các văn bản sớm vẫn là nghĩa cụ thể như trời âm u, phía có nắng, chưa phải nghĩa triết học.

Vì sao núi lấy phía nam làm dương còn sông lấy phía bắc làm dương?

Vì ở vùng Hoàng Hà, mặt trời luôn lệch về phía nam. Sườn nam của núi đón nắng; còn với con sông chảy ngang, bờ bắc là bờ quay mặt về phía nam nên được nắng. Cả hai cách đều xuất phát từ cùng một quan sát về ánh sáng.

Câu "Dịch dĩ đạo âm dương" nằm ở đâu?

Câu này nằm trong thiên Thiên hạ của sách Trang Tử, đoạn điểm qua công dụng của các kinh sách. Phần lớn học giả cho rằng thiên Thiên hạ được viết muộn, có thể bởi người thuộc dòng Trang học, nên câu này phản ánh cách nhìn Kinh Dịch ở cuối thời Chiến Quốc.

Tiếng Việt có từ thuần Việt nào tương đương âm dương không?

Không có một cặp từ thuần Việt bao trùm như âm dương, nhưng có nhiều cặp chỉ từng mặt cụ thể như nắng và râm, trống và mái, sấp và ngửa. Phần triết học thì tiếng Việt mượn nguyên hai chữ Hán Việt.

Nghĩa gốc địa hình có liên quan gì đến phong thủy không?

Có ở mức lịch sử: việc quan sát phía nắng phía bóng để chọn chỗ ở là một trong những gốc rễ xa của phong thủy. Nhưng hệ thống phong thủy với la bàn, quẻ, sao hình thành muộn hơn nhiều, không nên coi bài thơ Công Lưu là phong thủy hoàn chỉnh.

Đọc âm dương theo nghĩa gốc có làm mất ý nghĩa triết học không?

Không. Nghĩa gốc giúp hiểu vì sao âm dương luôn là quan hệ, luôn đổi chỗ theo thời gian và vị trí. Đó chính là những đặc điểm mà các nhà triết học đời sau khai triển, nên biết gốc là hiểu triết học vững hơn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183