HocThuyet.comHọc Thuyết
Âm dương và Thái cực

Hình âm dương hai con cá có từ bao giờ: lịch sử biểu tượng từ đời Tống đến nay

Hình tròn đen trắng hai chấm không có từ thời Kinh Dịch. Bài lần theo các bản vẽ đời Tống, Minh, cách đọc đường cong chữ S và những lỗi hay gặp khi vẽ lại.

Close view of black and white river pebbles arranged in a swirling circle on wet sand at a beach in Quang Ngai, soft overcast light, no other objects

Hình tròn chia hai nửa đen trắng uốn lượn như hai con cá, mỗi nửa có một chấm màu ngược lại, không xuất hiện trong Kinh Dịch hay các sách thời Chu – Hán; những bản vẽ gần với dạng này chỉ thấy rõ trong sách vở từ khoảng đời Minh, sau khi giới Dịch học đời Tống đã làm phong phú kho đồ hình. Cái tên "âm dương ngư" (cá âm dương) cũng là tên gọi dân gian khá muộn.

Bài lần theo những chặng chính của lịch sử biểu tượng: các hình đồ đời Tống, những bản vẽ đời Minh gần với dạng hiện nay, cách đọc đường cong chữ S và hai chấm, rồi cách biểu tượng trở thành hình ảnh quốc tế ở thế kỷ XX. Những chỗ tư liệu chưa chắc, bài nói rõ là chưa chắc.

Trước đời Tống: âm dương có chữ nhưng chưa có hình

Trong các văn bản cổ, âm dương được biểu thị bằng hào: vạch liền là dương, vạch đứt là âm. Đó là hệ ký hiệu của Chu Dịch, dùng để chồng thành quẻ. Không có văn bản Chu – Hán nào mô tả một hình tròn chia đôi bằng đường cong. Trên đồ đồng, đồ gốm, gạch Hán có nhiều hoa văn xoáy, mây cuộn, nhưng nối chúng với biểu tượng âm dương hiện đại là suy đoán, vì không có chữ nào đi kèm để xác nhận ý nghĩa.

Đây là điểm người viết nội dung văn hoá hay nhầm. Một số bài viết đưa ảnh đồ gốm thời đồ đá mới có hoa văn xoáy và gọi đó là "hình âm dương đầu tiên". Hoa văn xoáy là đề tài trang trí phổ biến ở rất nhiều nền văn hoá trên thế giới, từ châu Âu tới châu Mỹ. Nhìn giống nhau về hình không có nghĩa là cùng một ý niệm.

Cũng cần nhắc trường hợp các tấm khiên trong một bản thảo La Mã cuối thời cổ đại liệt kê phiên hiệu quân đội, nơi có hoa văn trông khá giống hình âm dương. Một số nhà nghiên cứu phương Tây đã nêu sự trùng hợp này. Phần lớn giới nghiên cứu xem đây là trùng hợp về hình học, không có quan hệ ý nghĩa hay truyền thừa. Bài học chung: một hình tròn chia đôi bằng đường cong là thứ rất dễ được nhiều nơi vẽ ra độc lập.

Đời Tống: thời của đồ hình

Đời Tống là thời Dịch học bùng lên phong trào vẽ đồ hình, thường gọi là "đồ thư học". Thiệu Ung dựng các sơ đồ bát quái tiên thiên, các vòng tròn 64 quẻ; Lưu Mục trình bày Hà đồ, Lạc thư dạng chấm; Chu Đôn Di có Thái cực đồ với các vòng tròn đồng tâm. Chu Hy đặt một loạt đồ hình ở đầu Chu Dịch bản nghĩa, khiến chúng trở thành một phần quen thuộc của sách Dịch.

Thái cực đồ của Chu Đôn Di có một tầng gồm các vòng tròn với những dải đen trắng xen kẽ, tượng trưng âm dương lồng vào nhau. Đó là hình gần nhất với ý niệm "âm trong dương, dương trong âm" mà về sau được hai chấm của hình cá diễn tả. Nhưng nó vẫn là những dải đồng tâm, chưa có đường cong chữ S.

Một số tư liệu về sau kể rằng có những bản đồ hình lưu truyền trong giới đạo sĩ và học giả đời Tống mang dạng xoáy, nhưng bản gốc không còn và lời kể chủ yếu đến từ người đời sau, nên giới nghiên cứu còn dè dặt. Cách nói an toàn nhất là: đời Tống là bối cảnh nảy sinh nhu cầu vẽ âm dương thành hình, còn dạng hình cá cụ thể thì chưa có chứng cứ chắc trong sách in đời Tống.

Đời Minh: những bản vẽ gần với dạng hiện nay

Những bản vẽ gần với hình hai con cá thường được dẫn đến từ đời Minh. Một trong số đó nằm trong sách Lục thư bản nghĩa của Triệu Huy Khiêm, học giả đầu đời Minh, mang tên gọi đại ý là "hình Hà đồ tự nhiên của trời đất". Hình có hai nửa đen trắng uốn quanh nhau. Tên gọi cho thấy người đương thời còn gắn hình này với Hà đồ, chưa gọi nó là "Thái cực đồ" như ta quen gọi.

Cuối đời Minh, Lai Tri Đức trong bộ chú Dịch của mình cũng đưa ra một hình tròn đen trắng với phần giữa để trống, được đời sau gọi là "Thái cực đồ họ Lai". Từ đây trở đi, các dạng hình tròn chia đôi bằng đường cong xuất hiện ngày càng nhiều trong sách Dịch, sách y, sách tướng số, và dần được gọi chung là Thái cực đồ, lấn át Thái cực đồ đồng tâm của Chu Đôn Di.

Đời Thanh, nhiều học giả khảo chứng như Hồ Vị phê phán các đồ hình đời Tống – Minh là không có gốc trong kinh văn. Tuy vậy, phê phán học thuật không cản được sự phổ biến của hình vẽ trong đời sống. Hình hai con cá đơn giản, cân đối, dễ nhớ, nên nó đi vào trang trí, vào ấn chương, và cuối cùng thành biểu tượng đại diện cho cả tư tưởng âm dương.

Ba cái tên cho một hình: Hà đồ, Thái cực đồ, âm dương ngư

Lịch sử tên gọi của hình này phản ánh khá rõ cách nó được hiểu qua từng thời. Ở đời Minh, như đã nói, có bản vẽ được gọi bằng một cái tên gắn với Hà đồ, tức người vẽ xem nó như một cách thể hiện trật tự số của trời đất. Gọi như vậy cho thấy hình được hiểu trước hết như một sơ đồ của Dịch học, đặt chung nhóm với Hà đồ, Lạc thư và các vòng bát quái.

Về sau, tên "Thái cực đồ" thắng thế. Lý do dễ hiểu: hình có một vòng tròn bao ngoài (gợi Thái cực) chia thành hai phần (gợi lưỡng nghi), khớp gọn với câu Hệ từ. Nhưng cái tên này dễ gây nhầm với Thái cực đồ của Chu Đôn Di, vốn là một hình khác hẳn. Khi đọc tài liệu, nên xem kỹ "Thái cực đồ" đang nói đến hình nào.

Tên "âm dương ngư" hay "song ngư" là cách gọi theo hình dáng, phổ biến trong dân gian và trong sách phổ thông hiện đại. Nó tiện cho việc mô tả nhưng không mang nội dung học thuật. Tiếng Anh thường gọi là yin-yang symbol hoặc taijitu, chữ sau là phiên âm của Thái cực đồ. Với người viết nội dung, cách an toàn là gọi "hình âm dương" khi nói về hình hai con cá, và gọi rõ "Thái cực đồ của Chu Đôn Di" khi nói về hình vòng tròn đồng tâm đời Tống.

Đọc hình: đường cong, hai chấm và chiều quay

Đường cong chữ S là tiêu trưởng. Nếu đi vòng quanh hình theo một chiều, phần trắng lớn dần đến cực đại rồi nhỏ lại, phần đen làm điều ngược lại. Nhiều người giảng đường cong này như biểu đồ dương thịnh dần rồi suy, âm suy dần rồi thịnh, giống nhịp bốn mùa.

Liên hệ với vòng bát quái tiên thiên. Có cách giải thích cho rằng hình cá là dạng làm mượt của vòng bát quái tiên thiên: đếm số hào dương của từng quẻ quanh vòng tròn rồi nối lại thì ra đường cong tương tự. Đây là một cách giảng hợp lý về mặt hình học, nhưng không có văn bản nào chứng minh người vẽ đầu tiên đã nghĩ đúng như thế.

Hai chấm là "âm trong dương, dương trong âm". Chấm đen trong vùng trắng và chấm trắng trong vùng đen diễn tả ý rằng không có gì thuần âm hay thuần dương; trong cái cực thịnh đã có mầm của cái đối lập. Đây là chi tiết mang ý nghĩa nhất của hình.

Chiều quay không có chuẩn duy nhất. Sách cổ và đồ vật cổ vẽ cả hai chiều. Có người quy ước phần trắng ở bên trái hoặc ở trên, nhưng không có một chuẩn bắt buộc nào được mọi truyền thống chấp nhận. Tranh cãi "vẽ ngược là xấu" thiếu căn cứ văn bản.

Màu đen trắng là quy ước. Một số bản dùng đỏ – xanh hoặc màu khác. Điều cốt lõi là hai phần tương phản, ôm lấy nhau, mỗi phần chứa mầm của phần kia.

Từ sách Dịch thành biểu tượng quốc tế

Cuối thế kỷ XIX, hình Thái cực xuất hiện trên quốc kỳ Hàn Quốc ngày nay, ở dạng hai nửa đỏ – xanh, bao quanh bởi bốn quẻ. Sang thế kỷ XX, cùng với làn sóng quan tâm tới văn hoá phương Đông ở châu Âu và châu Mỹ, hình âm dương được dùng rộng rãi trong sách phổ thông, trong võ thuật, trong thiết kế. Nhiều người phương Tây biết hình này trước khi biết Kinh Dịch hay Lão Tử.

Khi được phổ biến toàn cầu, hình mất dần bối cảnh. Nó được gắn với các khoá thiền, đồ trang sức, hình xăm, logo, mang những nghĩa như "cân bằng", "hài hoà". Một số nghĩa khá gần với tinh thần âm dương; một số khác là thêm thắt. Chẳng hạn cách hiểu "cân bằng" thành hai phần bằng nhau tuyệt đối bỏ quên ý tiêu trưởng mà chính đường cong của hình đang diễn tả.

Ở Việt Nam, hình âm dương xuất hiện trên đồ gốm, đồ đồng, ngói trang trí, trên cột cờ hội, trong các đền miếu, thường đi cùng hình bát quái. Nhiều hiện vật có niên đại chưa được xác định rõ; người làm bảo tàng, người viết nội dung khi giới thiệu nên ghi theo hồ sơ hiện vật, tránh gắn một hình âm dương với một thời đại xa nếu không có căn cứ.

Những lỗi hay gặp khi vẽ lại hình âm dương

Với người thiết kế logo, minh hoạ sách, vẽ hoạ tiết, vài lỗi sau làm hình mất ý nghĩa hoặc mất cân đối:

  • Bỏ mất hai chấm: hình vẫn đẹp nhưng mất ý "trong âm có dương", chi tiết mang nghĩa nhất.
  • Vẽ đường phân chia thành đường thẳng hoặc đường gãy: hình trông như hai nửa đứng yên, mất ý chuyển hoá liên tục.
  • Hai nửa lệch kích thước do dựng không đúng: cách dựng chuẩn là lấy hai nửa đường tròn nhỏ có đường kính bằng bán kính hình lớn, đặt đối nhau trên đường kính.
  • Gán nghĩa "đen là xấu, trắng là tốt" khi giải thích hình: không có trong truyền thống Dịch học.
  • Ghép hình âm dương với bát quái theo một thứ tự tuỳ ý rồi gọi là "chuẩn cổ": nếu dùng bát quái, cần ghi rõ đó là bố cục tiên thiên hay hậu thiên.
  • Ghi chú thích "biểu tượng 5.000 năm" hay tương tự: không có tư liệu ủng hộ niên đại ấy cho hình hai con cá.

Nếu cần một hình có giá trị tư liệu, có thể tham khảo các bản in cổ của Thái cực đồ Chu Đôn Di hoặc các bản vẽ đời Minh trong sách chuyên khảo, rồi chú thích rõ nguồn và thời đại.

Câu hỏi thường gặp

Hình âm dương có từ thời Phục Hy không?

Không có tư liệu nào cho thấy điều đó. Truyền thuyết nói Phục Hy vạch bát quái, tức là hệ vạch liền vạch đứt, không phải hình tròn đen trắng. Những bản vẽ gần với hình hai con cá chỉ thấy rõ trong sách từ đời Minh.

Vì sao hình âm dương được gọi là Thái cực đồ?

Vì đời sau gắn hình này với ý Thái cực sinh lưỡng nghi: vòng tròn là Thái cực, hai nửa là âm dương. Nhưng tên Thái cực đồ ban đầu thuộc về hình các vòng tròn đồng tâm của Chu Đôn Di; hình hai con cá mượn tên ấy muộn hơn.

Phần trắng nên ở bên trái hay bên phải?

Không có chuẩn bắt buộc. Sách cổ và đồ vật cổ có cả hai cách. Một số trường phái hay nhà thiết kế có quy ước riêng, nhưng không nên nói cách vẽ ngược chiều là sai hay mang điềm xấu.

Hai chấm nhỏ trong hình có ý nghĩa gì?

Hai chấm diễn tả ý trong âm có dương, trong dương có âm: không có gì thuần một bên, và trong cái thịnh nhất đã có mầm của cái đối lập. Đây là chi tiết thể hiện rõ nhất tinh thần chuyển hoá của tư tưởng âm dương.

Người Việt dùng hình âm dương từ khi nào?

Hình âm dương đi vào Việt Nam qua sách Dịch, sách y, tranh và đồ vật trang trí, nhưng chưa có mốc thời gian được xác định chắc chắn. Nhiều hiện vật mang hình này có niên đại muộn. Khi viết về một hiện vật cụ thể, nên dựa vào hồ sơ khảo cổ hoặc bảo tàng.

Muốn vẽ hình âm dương cân đối thì dựng thế nào?

Vẽ một đường tròn lớn, kẻ một đường kính. Trên đường kính ấy vẽ hai nửa đường tròn nhỏ có đường kính bằng bán kính hình lớn, một nửa cong lên, một nửa cong xuống. Tô hai phần, rồi đặt hai chấm ở tâm của hai nửa đường tròn nhỏ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183