Theo truyện Lang Liêu chép trong Lĩnh Nam chích quái, bánh dày hình tròn tượng trưng cho trời, bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất, và nhờ dâng cặp bánh ấy mà Lang Liêu được vua Hùng truyền ngôi. Câu chuyện quen đến mức nhiều người coi "trời tròn đất vuông" là một ý riêng của người Việt. Thật ra đó là một quan niệm vũ trụ phổ biến ở cả vùng Đông Á, có lịch sử tranh luận riêng.
Bài này đặt cặp bánh quen thuộc vào lịch sử tư tưởng: truyện được chép ở đâu, quan niệm thiên viên địa phương xuất hiện trong những văn bản nào, người xưa có tin trời tròn đất vuông theo nghĩa hình học không, và những cách đọc âm dương mà người đời sau gán thêm cho cặp bánh. Bài không bàn cách bày bánh trên bàn thờ, cũng không bàn cách gói; đó là việc của các trang về lễ Tết.
Truyện bánh chưng trong Lĩnh Nam chích quái
Lĩnh Nam chích quái là tập truyện chữ Hán gom các truyền thuyết, thần thoại nước Nam, thường được cho là hình thành từ khoảng cuối đời Trần và được các nho thần đời Lê hiệu đính, bổ sung. Trong tập có truyện về nguồn gốc bánh chưng, kể việc vua Hùng muốn chọn người nối ngôi, bảo các con tìm của ngon vật lạ dâng lên. Các hoàng tử khác đua nhau tìm sơn hào hải vị; Lang Liêu nghèo, mẹ mất sớm, được thần mách rằng trong trời đất không gì quý bằng gạo.
Theo lời thần trong truyện, Lang Liêu lấy gạo nếp làm hai thứ bánh: một thứ hình tròn tượng trời, một thứ hình vuông tượng đất, bên trong có nhân, ngoài bọc lá, ngụ ý cha mẹ sinh thành và trời đất bao bọc muôn vật. Vua nếm, thấy ngon và hiểu ý, nên truyền ngôi cho Lang Liêu. Từ đó dân gian giữ tục làm bánh chưng, bánh dày vào dịp Tết.
Cần nhớ đây là truyền thuyết được ghi lại muộn, hàng nghìn năm sau thời đại mà nó kể. Truyện cho ta biết người Việt thời trung đại hiểu cặp bánh ra sao và muốn gắn nó với cội nguồn dựng nước như thế nào, chứ không phải ghi chép sử học về một sự kiện có thật. Nói như vậy không làm giảm giá trị của truyện, mà giúp ta đọc nó đúng tầng nghĩa.
"Trời tròn đất vuông" từ đâu ra
Quan niệm thiên viên địa phương, trời tròn đất vuông, xuất hiện trong nhiều văn bản Trung Hoa cổ. Chu bễ toán kinh, một sách toán – thiên văn cổ, có đoạn gắn hình vuông với đất và hình tròn với trời. Trong thiên văn học cổ, đây là nền của thuyết "cái thiên", hình dung trời như một cái lọng úp lên mặt đất.
Điều thú vị là ngay từ rất sớm đã có người hoài nghi cách hiểu theo nghĩa đen. Sách Đại Đái Lễ ký chép một đoạn đối đáp, trong đó Tăng Tử được hỏi về chuyện trời tròn đất vuông và chỉ ra rằng nếu trời thật tròn mà đất thật vuông thì bốn góc đất sẽ không được che kín. Đại ý câu trả lời là chữ "tròn", "vuông" ở đây nói về đạo của trời và đất: trời vận hành xoay vần không ngừng, đất tĩnh tại, ngay thẳng, có phép tắc. Nói cách khác, tròn – vuông là biểu tượng của hai đức tính, không phải mô tả hình học.
Cách đọc biểu tượng ấy đi rất xa. Đồng tiền cổ lỗ vuông, đàn tế trời hình tròn và đàn tế đất hình vuông, bố cục nhiều công trình nghi lễ, đều có thể đọc theo cặp tròn – vuông. Khi người Việt kể truyện bánh chưng, họ đang dùng một ngôn ngữ biểu tượng chung của cả vùng, rồi gắn nó vào câu chuyện cội nguồn của riêng mình.
Vuông, tròn và âm dương: cách đọc của người đời sau
Cách đọc trời – đất. Đây là cách đọc có ngay trong truyện: bánh tròn là trời, bánh vuông là đất. Trong hệ âm dương, trời thuộc dương, đất thuộc âm, nên cặp bánh có thể hiểu là một cặp âm dương dâng lên tổ tiên trong ngày đầu năm.
Cách đọc cha – mẹ. Truyện nói đến công sinh thành của cha mẹ. Người đời sau thường gắn trời với cha, đất với mẹ, theo cách nói "trời cha đất mẹ" có mặt trong nhiều nền văn hoá. Cách đọc này nhấn vào đạo hiếu hơn là vũ trụ luận.
Cách đọc màu và chất liệu. Có người chú ý rằng bánh dày trắng, bánh chưng xanh lá, rồi gắn với âm dương hay ngũ hành. Đây là những diễn giải muộn, hay gặp trong sách báo hiện đại; truyện gốc không nói về màu theo ngũ hành. Bạn nên coi chúng là cách đọc thêm, không phải ý nghĩa nguyên thuỷ.
Cách đọc nông nghiệp. Lời thần trong truyện nhấn vào gạo: không gì quý bằng hạt gạo nuôi người. Nhiều nhà nghiên cứu văn hoá thấy đây mới là lõi của truyện: một xã hội trồng lúa nước tôn vinh sản phẩm của chính mình, đặt nó lên trên của ngon vật lạ.
Bánh chưng vuông, bánh tét tròn dài: một giả thuyết và những dè dặt
Ở miền Nam và nhiều vùng miền Trung, bánh ngày Tết là bánh tét, hình trụ dài chứ không vuông. Ở một số vùng miền núi phía Bắc, đồng bào Tày gói bánh chưng gù, bánh chưng đen, hình dáng cũng khác bánh chưng vuông của đồng bằng. Từ những thực tế này, một số nhà nghiên cứu văn hoá dân gian đặt giả thuyết rằng hình dạng bánh có thể đã đa dạng từ lâu, và hình vuông của bánh chưng đồng bằng là một dạng đã được "chuẩn hoá" theo câu chuyện trời tròn đất vuông.
Đi xa hơn, có ý kiến đọc cặp bánh trụ dài và bánh tròn dẹt như biểu tượng nam – nữ, gắn với tín ngưỡng phồn thực cổ của cư dân nông nghiệp. Đây là những giả thuyết thú vị, giúp mở rộng cách nhìn, nhưng nguồn tư liệu để chứng minh chúng rất mỏng. Không có văn bản cổ nào ghi rõ hình dáng bánh trước thời Lĩnh Nam chích quái.
Vì vậy, khi gặp những bài viết khẳng định chắc nịch "bánh chưng xưa vốn hình tròn" hay "bánh tét mới là bánh gốc", bạn nên đọc với sự dè dặt. Điều nói được chắc chắn là: hình vuông của bánh chưng đồng bằng được giải thích bằng quan niệm trời tròn đất vuông ít nhất từ khi truyện Lang Liêu được ghi chép, và cách giải thích ấy đã trở thành một phần của văn hoá Tết.
Những điều truyền thuyết không nói
Vì truyện quá quen, người ta hay gán thêm cho nó những điều không có trong văn bản. Đối chiếu với lời kể trong Lĩnh Nam chích quái, vài điểm sau nên được tách bạch:
- Truyện không ghi năm, không ghi đời vua Hùng thứ mấy theo cách có thể kiểm chứng; các con số đời vua trong sách phổ thông là cách sắp xếp của người sau.
- Truyện không nói về ngũ hành, về màu sắc tương ứng với các hành hay về con số lá dong; những liên hệ ấy là diễn giải hiện đại.
- Truyện không quy định cách bày bánh, số cặp bánh hay ngày gói bánh; các tục này hình thành và thay đổi theo vùng, theo thời.
- Truyện không nói bánh dày phải đặt trên hay dưới bánh chưng; những quy ước bày lễ là việc của từng gia đình, từng địa phương.
- Truyện có nhắc tới ý cha mẹ sinh thành và trời đất bao bọc, nhưng không triển khai thành một học thuyết; phần triết lý sâu hơn là do người đọc các đời sau thêm vào.
Tách bạch như vậy không nhằm phủ nhận các tục lệ hay cách diễn giải sau này. Chúng là một phần sống động của văn hoá. Chỉ là khi viết, khi dạy, khi kể lại, ta nên nói rõ đâu là lời truyện, đâu là cách hiểu thêm, để người nghe không nhầm một diễn giải đẹp với một sự thật lịch sử. Đó cũng là cách tôn trọng chính câu chuyện, vì một truyền thuyết được kể đúng tầng nghĩa luôn bền hơn một truyền thuyết bị tô vẽ quá tay.
Từ truyền thuyết đến Giỗ Tổ: cặp bánh như một biểu tượng chung
Truyện Lang Liêu gắn bánh chưng với thời các vua Hùng, nên cặp bánh có mặt tự nhiên trong các nghi lễ tưởng nhớ Hùng Vương. Vào dịp Giỗ Tổ mùng mười tháng Ba âm lịch, nhiều nơi tổ chức gói bánh chưng, giã bánh dày như một hoạt động cộng đồng. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO ghi danh là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2012.
Dưới góc lịch sử tư tưởng, điều đáng chú ý là một biểu tượng vũ trụ luận vốn chung của cả vùng Đông Á, trời tròn đất vuông, đã được người Việt "dịch" thành một món ăn và một câu chuyện cội nguồn rất riêng. Ít người Việt biết đến Chu bễ toán kinh hay Đại Đái Lễ ký, nhưng hầu như ai cũng biết vì sao bánh chưng vuông. Học thuyết đi vào đời sống theo đường bếp lửa và lời kể cho trẻ con, chứ không theo đường sách vở.
Đó cũng là lý do cặp bánh có sức sống bền bỉ. Nó không đòi người ta hiểu triết học, chỉ đòi nhớ một câu chuyện và giữ một tục lệ. Ý nghĩa sâu hơn nằm sẵn đó cho ai muốn tìm.
Kể truyện bánh chưng cho trẻ thế nào cho đúng
Truyện Lang Liêu là một trong những truyện đầu tiên trẻ em Việt được nghe. Kể sao cho vừa hấp dẫn vừa đúng tầng nghĩa:
- Kể trọn câu chuyện như một truyền thuyết, dùng chữ "ngày xưa", "tương truyền", để trẻ biết đây là truyện kể chứ không phải bài sử.
- Nhấn vào ý chính của truyện: hạt gạo do người nông dân làm ra là thứ quý nhất, và lòng biết ơn cha mẹ quan trọng hơn của ngon vật lạ.
- Giải thích "trời tròn đất vuông" như cách người xưa hình dung bằng hình ảnh, rồi nói thêm rằng nay ta biết Trái Đất hình cầu.
- Nếu trẻ lớn hơn, kể thêm rằng người ở nhiều nước Đông Á khác cũng có quan niệm tròn – vuông, để trẻ thấy văn hoá Việt nằm trong một vùng rộng.
- Cho trẻ cùng gói hay quan sát gói bánh, để câu chuyện gắn với đôi tay và mùi lá dong.
Kể như vậy, câu chuyện vẫn giữ nguyên vẻ đẹp, đồng thời trẻ học được cách phân biệt truyền thuyết với tri thức khoa học, một kỹ năng hữu ích cho cả đời.
Câu hỏi thường gặp
Truyện bánh chưng bánh dày được chép ở đâu?
Truyện được chép trong Lĩnh Nam chích quái, tập truyền thuyết chữ Hán thường được cho là hình thành khoảng cuối đời Trần và được hiệu đính đời Lê. Đây là ghi chép muộn về một truyền thuyết, không phải tư liệu sử học về sự kiện có thật.
Vì sao nói trời tròn đất vuông?
Đây là quan niệm vũ trụ cổ phổ biến ở Đông Á, có trong sách như Chu bễ toán kinh. Ngay trong Đại Đái Lễ ký đã có đoạn chép Tăng Tử giải thích tròn và vuông là nói về đạo của trời và đất, tức đức tính vận hành và tĩnh tại, chứ không phải hình dạng thật.
Bánh chưng và bánh dày có liên quan gì đến âm dương?
Theo truyện, bánh tròn tượng trời, bánh vuông tượng đất. Trong hệ âm dương, trời thuộc dương, đất thuộc âm, nên cặp bánh có thể đọc như một cặp âm dương. Những cách gắn màu bánh với ngũ hành là diễn giải muộn, truyện gốc không nói.
Bánh tét có phải là bánh chưng nguyên thuỷ không?
Chưa có tư liệu nào chứng minh điều đó. Một số nhà nghiên cứu đặt giả thuyết hình dạng bánh từng đa dạng và hình vuông được chuẩn hoá theo truyện Lang Liêu, nhưng nguồn tư liệu rất mỏng nên chỉ nên coi là giả thuyết.
Người xưa có thật tin đất hình vuông không?
Có những thuyết thiên văn cổ hình dung trời như cái lọng úp trên mặt đất, nhưng từ sớm đã có người hiểu tròn – vuông theo nghĩa biểu tượng. Vì vậy khó nói mọi người xưa đều tin theo nghĩa hình học; quan niệm này chủ yếu sống như một biểu tượng.
Bánh chưng có trong lễ Giỗ Tổ Hùng Vương không?
Có. Vì truyện Lang Liêu gắn với thời vua Hùng, nhiều nơi tổ chức gói bánh chưng, giã bánh dày vào dịp Giỗ Tổ mùng mười tháng Ba âm lịch. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO ghi danh năm 2012.