HocThuyet.comHọc Thuyết
Ngũ hành: từng hành và hệ quy loại

Bảng quy loại ngũ hành được ghép dần thế nào: từ Hồng Phạm, Nguyệt lệnh đến đời Hán

Bảng ngũ hành dài với mùa, phương, màu, âm, vị, tạng, đức không ra đời một lúc. Bài lần từng lớp ghép qua các văn bản và chỉ ra những dòng từng có tranh luận.

Close view of old woodblock printing tools on a workbench in a craft village near Hanoi, carved blocks turned face down, ink brushes, warm side light

Bảng quy loại ngũ hành mà ta thấy hôm nay, với hàng chục dòng như mùa, phương, màu, vị, âm, số, tạng, cảm xúc, đức, linh vật, là kết quả của nhiều lớp ghép nối qua hàng trăm năm. Lớp sớm nhất trong Hồng Phạm chỉ có tính chất và vị; hệ Nguyệt lệnh thêm mùa, phương, đế, thần, âm, số; các văn bản đời Hán thêm tạng, đức và nhiều dòng khác. Có những dòng từng được các nguồn đời Hán xếp khác nhau trước khi một cách xếp trở thành phổ biến.

Bài này lần lại các lớp ấy theo thứ tự văn bản, để người đọc nhìn một bảng ngũ hành như nhìn một mặt cắt địa tầng: mỗi lớp có tuổi riêng, nguồn riêng, mục đích riêng. Bài không dạy cách dùng bảng để chọn màu, chọn hướng hay đoán tính cách; mục tiêu chỉ là hiểu bảng ấy từ đâu mà có.

Lớp thứ nhất: tính chất và vị trong Hồng Phạm

Thiên Hồng Phạm của Thượng thư cho ta lớp tư liệu sớm nhất còn truyền lại. Ở đó mỗi hành được mô tả bằng một tính chất: Thuỷ thấm xuống, Hoả bốc lên, Mộc cong và thẳng, Kim theo và đổi, Thổ để gieo trồng gặt hái. Ngay sau là năm vị tương ứng: mặn, đắng, chua, cay, ngọt. Chỉ có hai dòng, nhưng hai dòng này đã đặt nền cho cả hệ thống: ngũ hành không đứng một mình mà kéo theo những bộ năm khác.

Ở thời Xuân Thu – Chiến Quốc, các văn bản đã quen dùng nhiều bộ năm như ngũ vị, ngũ sắc, ngũ thanh, nhưng không phải lúc nào cũng ghép từng thứ vào từng hành. Có những đoạn chỉ nói rằng năm vị, năm sắc, năm âm cần được điều hoà, như một nguyên tắc mỹ học và chính trị, mà không chỉ rõ vị nào thuộc hành nào. Lớp này cho thấy tư duy “năm phần” có trước việc ghép tất cả vào một bảng thống nhất.

Một điểm hay bị bỏ qua là Hồng Phạm không có màu, không có phương, không có mùa. Những bảng ngũ hành hiện đại thường đặt màu và phương lên hàng đầu, như thể đó là lõi của học thuyết. Xét theo lịch sử văn bản, chúng là lớp thứ hai, đến sau định nghĩa bằng tính chất. Biết điều này giúp ta hiểu vì sao tính chất vận động của mỗi hành mới là chìa khoá, còn màu và phương là phần mở rộng.

Lớp thứ hai: hệ thống Nguyệt lệnh và một năm có trật tự

Bước ghép lớn nhất nằm ở hệ thống mà ta gọi theo tên thiên Nguyệt lệnh của Lễ ký, với nội dung gần như trùng phần Thập nhị kỷ trong Lã Thị Xuân Thu, bộ sách biên soạn dưới sự bảo trợ của Lã Bất Vi cuối thời Chiến Quốc. Hệ thống này đi qua từng tháng trong năm và gán cho mỗi mùa một hành, một vị đế, một vị thần, một loài vật, một âm, một con số, một vị, một mùi, một vật tế, cùng những việc nhà vua nên làm và không nên làm.

Nhờ Nguyệt lệnh, ngũ hành có thêm chiều thời gian và không gian rõ rệt: xuân – Đông – Mộc, hạ – Nam – Hoả, trung ương – Thổ, thu – Tây – Kim, đông – Bắc – Thuỷ. Các loài vật được chia thành năm nhóm: có vảy, có lông vũ, không lông không vảy, có lông mao, có mai. Năm âm cung, thương, giốc, chuỷ, vũ được ghép vào năm hành; các con số tám, bảy, năm, chín, sáu cũng vậy.

Nguyệt lệnh còn có một dòng rất đáng chú ý: mỗi mùa ghi một tạng của con vật tế được dâng trước. Theo cách đọc phổ biến, mùa xuân dâng tỳ trước, mùa hạ dâng phế, trung ương dâng tâm, mùa thu dâng can, mùa đông dâng thận. Cách xếp này khác hẳn cách xếp tạng trong Hoàng Đế Nội Kinh mà ta quen. Đây là manh mối cho một cuộc tranh luận thú vị đời Hán, nói ở phần sau.

Các lớp chính của bảng quy loại và nguồn của chúng

Bảng dưới gom các dòng thường gặp, ghi lớp văn bản nơi chúng xuất hiện rõ. Cột cuối nêu mức thống nhất giữa các nguồn.

Dòng trong bảngLớp văn bản tiêu biểuMức thống nhất giữa các nguồn
Tính chất (nhuận hạ, viêm thượng…)Hồng PhạmRất cao
Ngũ vị (mặn, đắng, chua, cay, ngọt)Hồng PhạmRất cao
Mùa và phươngNguyệt lệnh, Lã Thị Xuân ThuRất cao; riêng vị trí Thổ trong thời gian có ba cách
Ngũ sắcVăn bản thời Chiến Quốc – HánCao
Ngũ âmNguyệt lệnhCao
Con sốNguyệt lệnh; đồ hình Hà đồ đời TốngHai hệ số song song
Đế, thần mỗi mùaNguyệt lệnhCao trong hệ Nguyệt lệnh, ít dùng về sau
Ngũ tạngHoàng Đế Nội Kinh; Nguyệt lệnh có cách xếp khácTừng có tranh luận đời Hán
Ngũ thường (nhân, lễ, tín, nghĩa, trí)Các sách đời HánPhổ biến, có biến thể ở văn bản sớm
Tứ tượng và linh vật trung tâmĐời Hán và về sauBốn phương thống nhất; trung tâm có nhiều cách
Hình dạng (vuông, tròn, dài…)Các sách ứng dụng đời sauLớp muộn, thay đổi theo trường phái

Đọc từ trên xuống, ta thấy mức thống nhất giảm dần khi đi từ lớp sớm sang lớp muộn. Những dòng nằm cuối bảng là nơi các tài liệu hiện đại khác nhau nhiều nhất, và cũng là nơi người đọc nên thận trọng nhất.

Lớp thứ ba: ngũ tạng và cuộc tranh luận Kim văn – Cổ văn

Đời Hán, việc học kinh điển chia thành hai truyền thống lớn: Kim văn, dựa trên các bản kinh chép bằng chữ đương thời, và Cổ văn, dựa trên các bản được cho là tìm thấy viết bằng chữ cổ. Hai truyền thống có lúc đọc cùng một chỗ theo hai cách. Cách ghép ngũ tạng vào ngũ hành là một trong những chỗ như vậy.

Theo cách xếp gắn với truyền thống Kim văn, tạng Can thuộc Mộc, Tâm thuộc Hoả, Tỳ thuộc Thổ, Phế thuộc Kim, Thận thuộc Thuỷ. Đây cũng là cách xếp của Hoàng Đế Nội Kinh và là cách trở thành chuẩn trong y học cổ truyền. Theo cách xếp được ghi lại gắn với truyền thống Cổ văn, ứng với dòng vật tế trong Nguyệt lệnh, Tỳ thuộc Mộc, Phế thuộc Hoả, Tâm thuộc Thổ, Can thuộc Kim, còn Thận vẫn thuộc Thuỷ. Các học giả đời Hán như Hứa Thận đã ghi lại sự khác biệt này khi bàn những chỗ các nhà kinh học giảng khác nhau.

Cuộc tranh luận này quan trọng vì nó cho thấy cách ghép ngũ tạng không phải điều hiển nhiên. Nó là một lựa chọn hệ thống hoá, có ít nhất hai phương án cạnh tranh, và phương án của Nội Kinh trở thành phổ biến nhờ sức sống của truyền thống y học. Với người đọc hôm nay, đó là lời nhắc rằng ngay cả những dòng tưởng như cố định nhất trong bảng ngũ hành cũng có lịch sử của nó. Phần lý luận y học là tư liệu lịch sử; mọi vấn đề sức khoẻ cần được thầy thuốc khám trực tiếp.

Lớp thứ tư: ngũ thường và đạo lý

Khi Nho học trở thành học thuyết chính thức đời Hán, ngũ hành được dùng để đặt các giá trị đạo đức vào trật tự vũ trụ. Năm đức thường, tức nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, được ghép vào năm hành. Cách xếp phổ biến về sau là Mộc – nhân, Hoả – lễ, Thổ – tín, Kim – nghĩa, Thuỷ – trí. Lý lẽ đi kèm mang tính biểu tượng: Mộc chủ sinh nên ứng với lòng nhân, Kim cứng sắc nên ứng với việc nghĩa, Thổ vững vàng nên ứng với chữ tín.

Ở các văn bản sớm hơn, cách ghép đức với hành không hoàn toàn đồng nhất; có chỗ Thổ đi với trí, có chỗ cách liên hệ đi qua ngũ tạng chứ không trực tiếp. Học Thuyết không đi sâu vào từng biến thể vì nhiều chi tiết còn được giới nghiên cứu bàn. Điều cần ghi nhận là đến cuối đời Hán, ngũ hành đã thành một ngôn ngữ chung nối tự nhiên, cơ thể và đạo đức. Nho giáo như một học phái, với đạo đức và kinh điển của nó, thuộc về những trang khác; ở đây ta chỉ nhìn ngũ thường như một dòng trong bảng quy loại.

Sau đời Hán, bảng tiếp tục được mở rộng trong các lĩnh vực ứng dụng: hình dạng, nghề nghiệp, vật liệu, thậm chí con số điện thoại trong những ứng dụng hiện đại. Các lớp muộn này thường không có văn bản gốc chung và khác nhau theo trường phái hoặc người viết. Chúng là một phần của lịch sử tiếp nhận học thuyết, nhưng không nên đặt ngang hàng với các lớp có nguồn kinh điển.

Tứ tượng, tứ linh và con vật ở giữa: một dòng có nhiều cách điền

Dòng linh vật là ví dụ rõ về một tương ứng được ghép từ hai nguồn khác nhau. Nguồn thứ nhất là thiên văn: hai mươi tám chòm sao dọc đường đi của mặt trăng được chia thành bốn nhóm theo bốn phương, mỗi nhóm hình dung thành một con vật là Thanh Long phương Đông, Chu Tước phương Nam, Bạch Hổ phương Tây, Huyền Vũ phương Bắc. Đó là Tứ tượng. Vì bốn phương đã gắn với bốn hành, bốn con vật này cũng được ghép vào Mộc, Hoả, Kim, Thuỷ.

Nguồn thứ hai là lễ nghi và điềm lành. Thiên Lễ vận trong Lễ ký nói tới “tứ linh” gồm lân, phượng, quy, long. Bộ này khác Tứ tượng: có rùa và rồng như Tứ tượng, nhưng có lân và phượng thay cho hổ và chim đỏ. Trong nghệ thuật trang trí Việt Nam, bộ tứ linh long, lân, quy, phụng rất quen thuộc trên đình chùa, đồ gỗ, đồ gốm, và nhiều khi bị gọi lẫn với Tứ tượng.

Khi cần một con vật cho Thổ ở trung tâm, các văn bản không thống nhất. Có văn bản đời Hán đặt rồng vàng ở giữa, có cách xếp đặt lân, có cách để trống. Chính chỗ hổng này cho thấy dòng linh vật ban đầu chỉ có bốn, sinh ra từ bầu trời chia bốn phương, rồi mới được kéo dãn cho đủ năm để khớp bảng ngũ hành. Người đọc gặp một bảng ghi chắc chắn “Thổ ứng với con vật X” nên biết rằng đó là một lựa chọn trong nhiều lựa chọn.

Đọc một bảng ngũ hành theo lối địa tầng

Khi gặp một bảng ngũ hành dài trong sách hay trên mạng, có thể đọc theo những gợi ý sau:

  • Tìm lõi trước: tính chất, vị, mùa, phương là những dòng sớm và thống nhất nhất; hiểu chúng trước rồi mới đọc phần còn lại.
  • Hỏi nguồn cho từng dòng: một dòng không ghi nguồn và không thấy trong các văn bản cổ tiêu biểu nhiều khả năng là lớp ghép muộn.
  • Để ý dòng tạng: nếu tài liệu trình bày như điều duy nhất, hãy nhớ đời Hán từng có cách xếp khác.
  • Phân biệt hai hệ con số: số trong Nguyệt lệnh và số sinh – thành của Hà đồ có liên quan nhưng không trùng.
  • Cẩn thận với các dòng ứng dụng như hình dạng, nghề nghiệp, vật liệu: chúng thay đổi theo người viết.
  • Nhớ rằng bảng là công cụ phân loại của một nền văn hoá, không phải bảng tuần hoàn của tự nhiên.

Đọc như vậy, bảng ngũ hành vẫn giữ được giá trị như một tư liệu văn hoá phong phú, đồng thời không còn là một danh sách bất biến mà người đọc phải chấp nhận nguyên khối.

Câu hỏi thường gặp

Bảng quy loại ngũ hành có từ khi nào?

Không có một thời điểm duy nhất. Lớp sớm nhất trong Hồng Phạm chỉ có tính chất và vị; hệ Nguyệt lệnh cuối thời Chiến Quốc thêm mùa, phương, âm, số; các văn bản đời Hán thêm tạng, đức. Bảng hiện đại là kết quả của nhiều lớp ghép.

Nguyệt lệnh là gì?

Nguyệt lệnh là một thiên trong Lễ ký, nội dung gần như trùng phần Thập nhị kỷ của Lã Thị Xuân Thu. Văn bản đi qua từng tháng, gán cho mỗi mùa một hành cùng đế, thần, loài vật, âm, số, vị và những việc nhà vua nên làm.

Vì sao có hai cách ghép ngũ tạng vào ngũ hành?

Đời Hán có hai truyền thống học kinh là Kim văn và Cổ văn. Cách xếp của Kim văn trùng với Hoàng Đế Nội Kinh và trở thành chuẩn; cách xếp gắn với Cổ văn ứng với dòng vật tế trong Nguyệt lệnh, khác ở bốn tạng, chỉ Thận vẫn thuộc Thuỷ.

Ngũ thường được ghép với ngũ hành như thế nào?

Cách xếp phổ biến là Mộc với nhân, Hoả với lễ, Thổ với tín, Kim với nghĩa, Thuỷ với trí. Lý lẽ mang tính biểu tượng, và ở văn bản sớm có những biến thể khác, nên đây là cách phổ biến chứ không phải duy nhất.

Ngũ hành của hình dạng như vuông, tròn có từ sách cổ không?

Các tương ứng về hình dạng chủ yếu xuất hiện trong sách ứng dụng đời sau và thay đổi theo trường phái. Chúng không nằm trong lớp kinh điển sớm như Hồng Phạm hay Nguyệt lệnh, nên nên đọc như một lớp tiếp nhận muộn.

Có nên tin một bảng ngũ hành dài trên mạng không?

Bảng ấy có thể hữu ích như tư liệu, nhưng nên tách từng dòng theo nguồn. Những dòng lõi như tính chất, vị, mùa, phương có gốc rõ; các dòng ứng dụng muộn thường khác nhau giữa người viết. Đọc như tư liệu văn hoá, không như quy luật tự nhiên.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183