Hai mươi bốn tiết khí hình thành qua nhiều thế kỷ: bắt đầu từ bốn mốc Đông chí, Hạ chí, Xuân phân, Thu phân mà người xưa tìm được bằng cách đo bóng nắng; thêm bốn mốc Lập xuân, Lập hạ, Lập thu, Lập đông thành tám mốc; rồi được chia tiếp thành hai mươi bốn. Danh sách đầy đủ với tên gần như ngày nay sớm nhất còn thấy trong sách Hoài Nam Tử, đầu đời Tây Hán.
Tiết khí là phần "dương lịch" nằm bên trong lịch âm: chúng bám theo vị trí Mặt Trời chứ không theo Mặt Trăng. Cách chia cũng thay đổi theo thời gian. Suốt nhiều thế kỷ, tiết khí được chia đều theo số ngày, gọi là bình khí; đến đời Thanh, lịch chính thức mới chuyển hẳn sang chia đều theo góc trên đường đi của Mặt Trời, gọi là định khí. Bài này kể lại hành trình ấy.
Cây nêu và cái bóng: tìm ra bốn mốc đầu tiên
Cách đơn giản nhất để biết mùa theo Mặt Trời là cắm một cây cọc thẳng đứng và đo bóng của nó lúc giữa trưa. Ngày bóng dài nhất trong năm là Đông chí, ngày bóng ngắn nhất là Hạ chí. Dụng cụ này trong sách cổ gọi là biểu, về sau kết hợp với một thước đo đặt nằm ngang gọi là khuê, thành bộ khuê biểu. Người làm lịch ở nhiều nền văn minh đều dùng nguyên lý tương tự.
Thiên Nghiêu điển trong Thượng thư có đoạn, đại ý, sai các quan đi bốn phương quan sát sao lúc chập tối để định giữa mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông. Bất kể niên đại thật của văn bản là bao giờ, đoạn này cho thấy ý tưởng về bốn mốc giữa mùa đã có từ rất sớm, và được xác định bằng cả Mặt Trời lẫn các vì sao.
Đông chí đặc biệt quan trọng vì dễ đo và vì nó được coi là điểm dương khí bắt đầu sinh. Trong lịch pháp cổ, tháng chứa Đông chí là tháng Tý, mốc khởi đầu cho cả vòng mười hai chi. Nhiều bộ lịch lấy thời khắc Đông chí làm điểm gốc để tính mọi thứ khác. Có thể coi cây nêu đo bóng là chiếc đồng hồ thiên văn đầu tiên của nghề làm lịch.
Từ bốn mốc lên tám, từ tám lên hai mươi bốn
Hai phân, hai chí. Bốn mốc đầu tiên là Xuân phân, Hạ chí, Thu phân, Đông chí. Chữ "phân" nghĩa là chia, ngày đêm dài bằng nhau; chữ "chí" nghĩa là đến cực điểm, ngày dài nhất hoặc ngắn nhất.
Bốn lập. Thêm vào giữa các mốc trên là Lập xuân, Lập hạ, Lập thu, Lập đông, đánh dấu sự khởi đầu của mỗi mùa. Tám mốc này các văn bản cuối Xuân Thu, Chiến Quốc đã nhắc đến, được coi là bộ khung của năm theo Mặt Trời.
Lã Thị Xuân Thu. Bộ sách do môn khách của Lã Bất Vi soạn cuối thời Chiến Quốc có phần Thập nhị kỷ, mỗi tháng mô tả thời tiết, vật hậu và việc nên làm. Trong đó đã xuất hiện tên nhiều tiết khí, nhưng chưa thành danh sách hai mươi bốn đầy đủ, đều đặn.
Hoài Nam Tử. Sách do Hoài Nam vương Lưu An và môn khách biên soạn, dâng lên triều đình đầu đời Hán Vũ Đế. Thiên Thiên văn huấn của sách nêu đủ hai mươi bốn tiết khí, gắn mỗi tiết với một hướng của cán sao Bắc Đẩu, mỗi tiết cách nhau mười lăm ngày. Đây là danh sách đầy đủ sớm nhất còn lại, với tên gọi gần như ngày nay.
Thứ tự từng có thay đổi. Thứ tự một vài tiết khí ở các bộ lịch đời Hán không hoàn toàn giống bây giờ; trường hợp hay được nhắc là Vũ thủy và Kinh trập từng đứng đổi chỗ cho nhau. Chi tiết này nhắc rằng hệ thống đã được chỉnh sửa dần, không phải từ trên trời rơi xuống nguyên vẹn.
Bình khí và định khí: hai cách chia năm
Câu hỏi kỹ thuật lớn nhất trong lịch sử tiết khí là chia năm thế nào cho "đều". Có hai cách trả lời.
| Tiêu chí | Bình khí (hằng khí) | Định khí |
|---|---|---|
| Chia theo | Thời gian: năm mặt trời chia thành 24 phần bằng nhau | Góc: đường đi biểu kiến của Mặt Trời chia thành 24 phần, mỗi phần 15 độ |
| Độ dài mỗi tiết | Luôn khoảng 15,2 ngày | Từ khoảng 14,7 đến 15,7 ngày, tuỳ mùa |
| Cơ sở thiên văn | Coi Mặt Trời chuyển động đều | Tính đến việc Mặt Trời đi nhanh chậm khác nhau trong năm |
| Dùng trong lịch chính thức | Từ đời Hán đến cuối đời Minh | Từ lịch Thời Hiến đời Thanh, giữa thế kỷ XVII |
| Hệ quả | Xuân phân, Thu phân trên lịch có thể lệch vài ngày so với ngày đêm bằng nhau thật | Các mốc phân, chí khớp đúng hiện tượng thiên văn |
Sự khác biệt bắt nguồn từ quỹ đạo hình elip của Trái Đất. Trái Đất ở gần Mặt Trời nhất vào đầu tháng Một dương lịch, lúc đó nó đi nhanh hơn, nên Mặt Trời nhìn từ Trái Đất cũng đi nhanh hơn trên nền sao. Vì vậy các tiết khí quanh Đông chí ngắn hơn các tiết khí quanh Hạ chí.
Các nhà thiên văn Trung Hoa đã nhận ra Mặt Trời chuyển động không đều từ khá sớm; Trương Tử Tín đời Bắc Tề thường được nhắc là người phát hiện điều này qua quan sát lâu năm. Từ đời Tuỳ, Đường, phép định khí được dùng trong tính toán nhật thực, nguyệt thực, nhưng lịch phát cho dân vẫn ghi bình khí. Đến lịch Thời Hiến, ban hành đầu đời Thanh với sự tham gia của các giáo sĩ phương Tây làm việc ở Khâm thiên giám như Thang Nhược Vọng, định khí mới chính thức thay thế. Sự thay đổi này từng gây tranh cãi gay gắt trong triều đình nhà Thanh.
Bảy mươi hai hậu: đọc mùa bằng cỏ cây, chim muông
Song song với hai mươi bốn tiết khí, sách cổ còn chia mỗi tiết thành ba "hậu", mỗi hậu khoảng năm ngày, tổng cộng bảy mươi hai hậu. Mỗi hậu gắn với một hiện tượng tự nhiên quan sát được: gió đông làm tan băng, sâu bọ ngủ đông bắt đầu cựa mình, chim én trở về, cầu vồng bắt đầu xuất hiện, sấm bắt đầu cất tiếng. Hệ thống này thấy trong thiên Nguyệt lệnh và được chuẩn hoá trong các bộ lịch đời sau.
Bảy mươi hai hậu là một kho tư liệu về cách người xưa quan sát tự nhiên vùng trung lưu Hoàng Hà. Nhiều hậu nghe rất lạ với người hiện đại, vì chúng dựa trên những quan niệm sinh học cổ, chẳng hạn chim biến thành loài khác theo mùa. Đọc như dữ liệu khoa học thì không chính xác; đọc như ghi chép vật hậu học của một nền văn minh nông nghiệp thì rất đáng quý.
Cũng vì gắn với khí hậu một vùng cụ thể nên tên tiết khí và hậu không khớp hoàn toàn với Việt Nam: có Tiểu tuyết, Đại tuyết mà nhiều nơi ở nước ta không có tuyết. Người Việt tiếp nhận tiết khí chủ yếu như khung thời gian và đặt cho nó nội dung mùa vụ của riêng mình. Ở Nam Bộ, nhịp mùa khô mùa mưa quan trọng hơn bốn mùa xuân hạ thu đông của sách vở.
Tiết khí trong đời sống người Việt
Người Việt dùng tên tiết khí nhiều hơn mình tưởng. Thanh minh gắn với tục tảo mộ; câu thơ quen thuộc trong Truyện Kiều của Nguyễn Du "Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh" ghi lại đúng phong tục ấy. Đông chí, Hạ chí, Lập xuân, Lập thu thường được báo chí, lịch bloc nhắc tới như mốc chuyển mùa. Sương giáng, Tiểu hàn, Đại hàn quen thuộc với người miền Bắc như những đợt rét.
Trong nông nghiệp truyền thống, tiết khí là một trong những căn cứ để định thời vụ, bên cạnh tháng âm lịch, con nước và kinh nghiệm địa phương. Người nông dân xưa thường nhớ lịch thời vụ bằng tục ngữ, ca dao hơn là bằng tên tiết khí Hán Việt; tên tiết khí chủ yếu có mặt trên lịch in và trong sách của nhà nho.
Năm 2016, hai mươi bốn tiết khí, do Trung Quốc đề cử, được UNESCO ghi vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại, như một tri thức về thời gian và thực hành nông nghiệp. Điều đó cho thấy giới nghiên cứu nhìn tiết khí trước hết như một di sản tri thức, không phải như một công cụ tiên đoán.
Tiết khí hôm nay: ai tính và tính theo gì
Ngày nay, thời điểm của mỗi tiết khí được tính bằng thiên văn học hiện đại: khi kinh độ hoàng đạo của Mặt Trời đạt các bội số của mười lăm độ. Xuân phân ứng với không độ, Hạ chí chín mươi độ, Thu phân một trăm tám mươi độ, Đông chí hai trăm bảy mươi độ. Vì là thời khắc thiên văn tức thời, ngày của một tiết khí trên lịch phụ thuộc múi giờ: cùng một thời khắc có thể là ngày 21 ở nước này và ngày 22 ở nước khác.
Cũng cần phân biệt thời khắc thiên văn với cách người xưa cảm nhận mùa. Lập xuân trên lịch đến khi trời miền Bắc còn rét đậm, Lập thu đến giữa lúc nắng nóng vẫn gay gắt. Đó không phải lịch sai, mà vì tiết khí đánh dấu vị trí Mặt Trời, còn nhiệt độ mặt đất luôn đi trễ hơn vài tuần do biển và đất cần thời gian để nóng lên hay nguội đi.
Điều này giải thích vì sao ngày tiết khí trên lịch Việt Nam đôi khi lệch một ngày so với lịch Trung Quốc, và vì sao các bảng tra lấy từ nguồn nước ngoài có thể không khớp. Lịch âm Việt Nam hiện nay được tính theo múi giờ của Việt Nam, nên tiết khí cũng theo múi giờ ấy.
Từ cây nêu trong sân đến phép tính quỹ đạo, tiết khí là ví dụ hiếm hoi của một khái niệm cổ được hiện đại hoá trọn vẹn mà không đổi tên. Nó là phần "khoa học" nhất trong lịch truyền thống, vì bám sát một hiện tượng thiên văn đo được. Nếu bạn cần ngày tiết khí cụ thể của năm nay, các công cụ lịch như phần tra lịch âm trên AI Huyền Học sẽ cho kết quả theo đúng múi giờ Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao tiết khí lại nằm trong lịch âm?
Vì lịch truyền thống phương Đông là lịch âm dương: tháng theo Mặt Trăng, còn mùa theo Mặt Trời. Tiết khí là phần theo Mặt Trời, được dùng để giữ cho tháng âm lịch không trôi khỏi mùa, và để quyết định tháng nhuận. Gọi là lịch âm cho gọn, nhưng bên trong có cả hai nhịp.
Ngày tiết khí có cố định trên dương lịch không?
Gần như cố định, chỉ xê dịch khoảng một ngày giữa các năm, vì cả tiết khí lẫn dương lịch đều bám theo Mặt Trời. Sự xê dịch đến từ việc năm dương lịch có năm nhuận và năm mặt trời không đúng tròn số ngày.
Hoài Nam Tử là sách gì?
Hoài Nam Tử là bộ sách tổng hợp tư tưởng do Hoài Nam vương Lưu An tổ chức biên soạn đầu đời Tây Hán, mang đậm màu sắc Đạo gia nhưng gom nhiều học thuyết khác. Thiên Thiên văn huấn của sách là tư liệu quan trọng về thiên văn và lịch pháp cổ.
Tiết khí có giống bốn mùa của phương Tây không?
Cả hai đều dựa trên vị trí Mặt Trời, và các mốc phân, chí là chung. Khác biệt là cách chọn điểm bắt đầu mùa: phương Đông lấy bốn tiết Lập làm đầu mùa, nên mùa xuân bắt đầu khoảng đầu tháng Hai; phương Tây thường lấy Xuân phân làm đầu mùa xuân thiên văn, khoảng tháng Ba.
Vì sao chuyển sang định khí lại gây tranh cãi?
Vì đổi phép lịch là chuyện lớn của triều đình phong kiến, gắn với chính danh và truyền thống. Việc lịch mới do các giáo sĩ phương Tây tham gia soạn khiến một số quan lại phản đối mạnh, coi là trái phép xưa. Tranh luận kéo dài nhiều năm trước khi lịch mới đứng vững.
Bảy mươi hai hậu có còn được dùng không?
Trong đời sống hằng ngày ở Việt Nam, hệ bảy mươi hai hậu hầu như không còn được dùng. Nó chủ yếu xuất hiện trong sách nghiên cứu lịch pháp, vật hậu học và trong một số lịch in kiểu cổ, như một tư liệu văn hoá về cách người xưa quan sát thiên nhiên.