Trang Tử, tên thật là Trang Chu, là nhà tư tưởng thời Chiến Quốc, sống khoảng thế kỷ IV trước Công nguyên, cùng thời với Mạnh Tử, và là người thứ hai sau Lão Tử trong cặp Lão – Trang của Đạo gia. Sách mang tên ông, Trang Tử, đời Đường được tôn là Nam Hoa chân kinh, nên người Việt quen gọi Nam Hoa kinh.
Bản ta đọc hôm nay có 33 thiên, chia ba phần: nội thiên bảy thiên, ngoại thiên mười lăm thiên, tạp thiên mười một thiên. Không phải thiên nào cũng do Trang Chu viết; giới nghiên cứu nhìn chung coi bảy thiên nội là phần gần ông nhất, còn các phần khác là của những thế hệ học trò và người cùng dòng tư tưởng. Bài này kể những gì sử liệu cho biết về con người ông, cấu trúc của sách, và chỗ Trang khác Lão.
Sử ký chép gì về Trang Chu
Giống Lão Tử, nguồn sử chính về Trang Tử là một đoạn ngắn trong Sử ký của Tư Mã Thiên, nằm ngay sau truyện Lão Tử. Đại ý: Trang Tử người đất Mông, tên Chu, từng làm một chức lại nhỏ coi vườn sơn ở Mông, cùng thời với Lương Huệ Vương và Tề Tuyên Vương. Học vấn của ông không gì không xem qua, nhưng gốc quy về lời Lão Tử.
Sử ký ghi ông viết sách hơn mười vạn chữ, phần lớn là ngụ ngôn, và nêu tên mấy thiên mà Tư Mã Thiên cho là nhằm chê bai học trò Khổng Tử. Ông giỏi văn từ, dùng lời lẽ phóng túng, đến các bậc học giả đương thời cũng không tự gỡ được khi tranh luận với ông.
Đoạn nổi tiếng nhất trong truyện là chuyện Sở Uy Vương nghe tiếng, sai sứ mang lễ vật hậu đến mời ông làm tướng quốc. Trang Tử cười, ví mình với con bò được nuôi béo, mặc gấm vóc để đem vào miếu tế: đến lúc ấy muốn làm con lợn con lang thang cũng không được. Ông xin được vui thú trong bùn lầy, không để người cầm quyền trói buộc.
Ngoài Sử ký, hầu hết những gì ta biết về đời ông đến từ chính sách Trang Tử, nghĩa là từ các truyện kể mà ông hay học trò viết. Cần đọc chúng như chân dung văn chương chứ không như tiểu sử đã kiểm chứng.
Chân dung Trang Tử qua các truyện trong sách
Nghèo mà không cầu cạnh. Thiên Ngoại vật kể Trang Chu nhà nghèo, đi vay lúa của một vị quan. Vị quan hứa đợi thu thuế xong sẽ cho vay nhiều. Trang Tử kể lại chuyện con cá giếc mắc trong vết bánh xe chỉ cần một gáo nước, được hứa sẽ dẫn cả dòng sông lớn tới; nó đáp đến lúc ấy hãy tìm nó ở hàng cá khô.
Áo vá, giày buộc dây. Thiên Sơn mộc tả ông mặc áo vải vá, giày rách buộc dây đi gặp vua Nguỵ. Vua hỏi sao khốn khổ thế, ông đáp đó là nghèo chứ không phải khốn khổ; kẻ sĩ có đạo mà không thực hành được mới là khốn khổ.
Bạn tranh luận Huệ Thi. Huệ Thi, một nhà tư tưởng thuộc nhóm Danh gia, xuất hiện nhiều lần như người bạn và đối thủ tranh luận. Thiên Từ Vô Quỷ kể khi Huệ Thi đã mất, Trang Tử qua mộ, kể chuyện người thợ đá đất Dĩnh chỉ múa rìu được khi có người bạn đứng yên cho mình chém vết vôi trên mũi, rồi nói từ khi Huệ Tử chết, ông không còn ai để nói chuyện.
Vợ mất, ngồi gõ chậu hát. Thiên Chí lạc kể Huệ Thi đến viếng, thấy Trang Tử ngồi xoạc chân gõ chậu hát, trách ông. Trang Tử giải thích lúc đầu ông cũng thương xót, nhưng nghĩ lại thì sự sống và cái chết như bốn mùa nối nhau, khóc lóc là không hiểu lẽ mệnh.
Lúc sắp mất. Thiên Liệt Ngự Khấu kể học trò muốn chôn ông thật hậu. Ông nói lấy trời đất làm quan quách, mặt trời mặt trăng làm ngọc bích, sao trời làm châu báu, vạn vật làm đồ tống táng, còn thiếu gì nữa. Học trò sợ quạ diều ăn xác, ông đáp để trên mặt đất thì quạ diều ăn, chôn dưới đất thì giun kiến ăn, cướp của bên này cho bên kia làm gì.
Bảy thiên nội: phần gần Trang Chu nhất
Phần lớn học giả, dù khác nhau về chi tiết, đều coi nội thiên là lõi của sách. Bảng dưới tóm ý chính từng thiên theo thứ tự bản Quách Tượng.
| Thiên | Nghĩa tên thiên | Ý chính |
|---|---|---|
| Tiêu dao du | Rong chơi thong dong | Chim Bằng, lớn nhỏ, tự do không phải chờ đợi, cái dụng của vô dụng |
| Tề vật luận | Bàn về sự ngang bằng của muôn vật | Thị phi tương đối, giới hạn của ngôn ngữ, giấc mộng hồ điệp |
| Dưỡng sinh chủ | Cái chủ của việc nuôi sự sống | Bào Đinh mổ bò, theo thớ tự nhiên, không hao mòn |
| Nhân gian thế | Ở giữa cõi người | Cách sống bên cạnh người cầm quyền, tâm trai, cây vô dụng sống lâu |
| Đức sung phù | Dấu hiệu của đức đầy đủ | Người tàn tật, xấu xí mà có đức, coi nhẹ hình hài |
| Đại tông sư | Bậc thầy lớn | Chân nhân, sống chết là một dòng, toạ vong |
| Ứng đế vương | Đáp ứng làm vua | Trị nước bằng không can thiệp, chuyện Hỗn Độn bị đục bảy lỗ |
Ngoại thiên và tạp thiên thường lặp lại, mở rộng hoặc đi theo hướng khác các ý trong nội thiên. Một số thiên ngoại như Thu thuỷ, Chí lạc rất nổi tiếng và chứa những ngụ ngôn được trích nhiều nhất, dù có thể không do chính Trang Chu viết.
Ai viết phần nào: từ 52 thiên xuống 33 thiên
Thư mục Hán thư Nghệ văn chí ghi sách Trang Tử có 52 thiên. Bản 33 thiên ta có hôm nay là bản do Quách Tượng, một học giả đời Tây Tấn, biên tập và chú giải. Quách Tượng đã loại bỏ những thiên ông cho là tạp nhạp, không đáng tin, nên khoảng một phần ba văn bản đời Hán đã mất. Sách Thế thuyết tân ngữ còn chép một nghi án: lời chú của Quách Tượng có phần lấy từ lời chú của Hướng Tú. Đến nay vấn đề này vẫn được bàn.
Về tác giả từng phần, cách chia nội – ngoại – tạp bản thân đã là một nhận định về độ gần gũi với Trang Chu. Thế kỷ XX, nhiều học giả phân tích sâu hơn. Học giả Anh A. C. Graham chia ngoại và tạp thiên thành mấy nhóm tư tưởng khác nhau, trong đó có nhóm đề cao lối sống nguyên sơ, nhóm gần tư tưởng Dương Chu và nhóm dung hợp với các học phái khác. Một số nghiên cứu khác dựa vào từ vựng, nhận thấy những từ ghép như đạo đức, tính mệnh, tinh thần xuất hiện ở ngoại tạp thiên nhưng vắng trong nội thiên, từ đó lập luận nội thiên có niên đại sớm hơn.
Những phân tích ấy không thống nhất ở mọi điểm, nhưng gặp nhau ở một nhận định: sách Trang Tử là tuyển tập của một dòng tư tưởng kéo dài qua vài thế hệ, chứ không phải tác phẩm của một người. Vì vậy khi trích, bạn nên ghi tên thiên. Viết Trang Tử nói trong thiên Tề vật luận chính xác hơn viết Trang Tử nói, nhất là với các câu nằm ở ngoại tạp thiên.
Cuối cùng, thiên Thiên hạ khép lại bản 33 thiên là một bản tổng thuật các học phái thời Chiến Quốc, kể cả Mặc gia, Huệ Thi và chính Trang Chu. Đây là một trong những tài liệu sớm nhất về lịch sử tư tưởng Trung Hoa do người trong cuộc viết.
Ngụ ngôn, trùng ngôn, chi ngôn: cách Trang Tử viết
Thiên Ngụ ngôn ở tạp thiên tự giải thích cách viết của sách bằng ba loại lời. Ngụ ngôn là lời gửi gắm, mượn chuyện người khác, vật khác để nói ý mình; văn bản nói loại này chiếm khoảng chín phần mười. Trùng ngôn là lời mượn uy tín của người xưa, đặt ý mình vào miệng các bậc tiền bối được kính trọng; loại này chiếm khoảng bảy phần mười. Chi ngôn là lời tuôn ra hằng ngày, uyển chuyển theo hoàn cảnh như nước rót từ cái chén tự nghiêng khi đầy.
Hai con số chín phần mười và bảy phần mười cộng lại vượt quá một trăm phần trăm, nghĩa là các loại lời chồng lên nhau: một câu chuyện có thể vừa là ngụ ngôn vừa mượn lời Khổng Tử. Biết điều này giúp tránh một lỗi phổ biến: lấy lời Khổng Tử, Nhan Hồi, Lão Đam trong Trang Tử làm tư liệu về chính những người ấy. Trong sách, Khổng Tử có lúc là người bị chê, có lúc lại là người giảng đạo lý rất Trang Tử, như đoạn dạy Nhan Hồi phép tâm trai ở thiên Nhân gian thế.
Lối viết này giải thích vì sao Trang Tử được đánh giá cao cả như văn chương lẫn như triết học. Những nhân vật kỳ dị như người cụt chân, người gù, người thợ, người lái đò, con rùa, con cá, cái bóng nói chuyện với vùng nửa tối đều là cách đưa người đọc ra khỏi góc nhìn quen thuộc. Nhiều thành ngữ Hán Việt người Việt vẫn dùng, như ếch ngồi đáy giếng hay được cá quên nơm, thường được truy về các ngụ ngôn của sách này.
Trang Tử khác Lão Tử ở đâu
Hai cái tên đi cùng nhau thành Lão – Trang, cách gọi phổ biến mạnh từ thời Nguỵ Tấn. Nhưng hai văn bản rất khác nhau về giọng và mối quan tâm. Bảng dưới là các khác biệt hay được giới nghiên cứu nêu.
| Phương diện | Đạo Đức Kinh | Trang Tử |
|---|---|---|
| Hình thức | Câu ngắn, có vần, như châm ngôn | Văn xuôi dài, ngụ ngôn, đối thoại, nhiều hài hước |
| Người nghe chính | Người trị nước, bậc thánh nhân cầm quyền | Cá nhân muốn sống tự do giữa thời loạn |
| Thái độ với chính trị | Đưa ra cách trị nước: ít can thiệp, khiêm hạ | Phần lớn né tránh quyền lực, từ chối làm quan |
| Chủ đề nổi bật | Đạo, Đức, vô vi, mềm thắng cứng | Tự do tinh thần, tương đối của thị phi, sống chết, giới hạn ngôn ngữ |
| Cách nói về Đạo | Trang nghiêm, súc tích | Đạo ở trong con kiến, cọng cỏ, viên ngói, cả trong phân nước tiểu, như thiên Tri bắc du kể |
Vì khác nhau như vậy, một số học giả cho rằng trong thời Chiến Quốc hai văn bản có thể chưa được xem là cùng một trường phái. Nhãn Đạo gia gộp cả hai là cách phân loại của đời Hán, sẽ được bàn thêm trong bài phân biệt Đạo gia và Đạo giáo.
Câu hỏi thường gặp
Trang Tử và Trang Chu có phải một người không?
Phải. Chu là tên, Trang là họ, Tử là cách gọi tôn kính bậc thầy. Trong chính sách, nhân vật thường tự xưng là Chu, như trong giấc mộng hồ điệp. Sách thì mang tên Trang Tử, đời Đường được tôn thêm tên Nam Hoa chân kinh.
Vì sao sách Trang Tử còn gọi là Nam Hoa kinh?
Đời Đường, triều đình tôn Trang Tử danh hiệu Nam Hoa chân nhân và gọi sách là Nam Hoa chân kinh, trong bối cảnh hoàng tộc đề cao Đạo gia. Người Việt gọi gọn là Nam Hoa kinh. Tên này phản ánh địa vị của sách trong lịch sử chứ không phải tên gốc.
Nên đọc thiên nào của Trang Tử trước?
Nhiều người bắt đầu bằng ba thiên nội đầu: Tiêu dao du, Tề vật luận, Dưỡng sinh chủ. Sau đó có thể đọc thiên Thu thuỷ ở ngoại thiên vì giàu ngụ ngôn dễ nhớ. Tề vật luận khó nhất, nên đọc chậm và kèm chú giải.
Trang Tử có làm quan không?
Theo Sử ký, ông từng làm một chức lại nhỏ coi vườn sơn ở đất Mông, rồi từ chối lời mời làm tướng quốc của vua Sở. Các truyện trong sách tả ông sống nghèo, không cầu danh. Ngoài các nguồn ấy, không có tư liệu độc lập về sự nghiệp của ông.
Huệ Thi là ai và vì sao xuất hiện nhiều trong Trang Tử?
Huệ Thi là nhà tư tưởng thời Chiến Quốc, thuộc nhóm Danh gia chuyên bàn về khái niệm, nghịch lý. Trong sách, ông là người bạn và đối thủ tranh luận của Trang Tử. Phần lớn tác phẩm của Huệ Thi đã mất, nên những gì còn lại chủ yếu đến qua Trang Tử.
Trang Tử có phải theo Lão Tử không?
Sử ký nói học vấn của Trang Tử quy về lời Lão Tử, và đời sau gộp hai người thành Lão – Trang. Nhưng nội thiên ít khi dẫn lời Lão Tử, mối quan tâm và giọng văn cũng khác. Nhiều học giả cho rằng hai dòng có chung tinh thần nhưng phát triển khá độc lập.