Ở Việt Nam, tư tưởng Lão – Trang không có trường phái riêng hay giáo đoàn, mà thấm vào văn hoá qua ba lối chính: tinh thần Tam giáo đời Lý – Trần, lý tưởng nhàn và tri túc của nhà nho khi lui về ở ẩn, và các điển tích, thành ngữ đi vào lời ăn tiếng nói. Bài thơ Nôm Nhàn thường được gắn với Nguyễn Bỉnh Khiêm là ví dụ quen thuộc nhất.
Cần nói ngay: nhà nho Việt Nam phần lớn là người học Nho, đi thi, làm quan. Lão – Trang đến với họ như một chỗ dựa tinh thần khi không còn ở chốn quan trường, hoặc như một giọng phản tỉnh bên cạnh giáo lý chính thống. Bài này theo dấu ảnh hưởng ấy qua từng chặng, chỉ nêu những gì có tư liệu tương đối rõ, và tách bạch chỗ nào là nhận định của giới nghiên cứu.
Thời Lý – Trần: Tam giáo cùng tồn tại
Sử cũ chép đời Lý có những kỳ thi về Tam giáo, tức Nho, Phật, Lão, và triều đình dùng người từ cả ba truyền thống. Các đạo sĩ có mặt trong các nghi lễ của triều đình, bên cạnh tăng sĩ và nho thần. Tinh thần chung của thời này là ba truyền thống cùng tồn tại, mỗi bên một vai, chưa có sự độc tôn Nho học như các triều sau.
Trong văn chương thiền Lý – Trần, nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy những hình ảnh và giọng điệu gần với Trang Tử: coi nhẹ sống chết, thong dong ngoài danh lợi, ưa nghịch lý. Tuệ Trung Thượng Sĩ, một nhân vật hoàng tộc đời Trần nổi tiếng với lối sống phóng khoáng, thường được nhắc như ví dụ. Tuy vậy, nên nhớ đó là thơ thiền, gốc ở Phật giáo; dấu Lão – Trang là ảnh hưởng về hình ảnh và tinh thần, không có nghĩa các thiền sư theo Đạo gia.
Cái nền Tam giáo đồng tồn này giải thích vì sao về sau, ngay cả khi Nho học độc tôn thời Lê, người Việt vẫn quen nhìn ba truyền thống như ba mặt bổ sung. Phần tổng quan về Tam giáo và vị trí của Nho học thuộc về lịch sử Nho giáo; ở đây chỉ nhấn rằng Lão – Trang đã có chỗ đứng trong văn hoá cung đình và văn chương Việt từ rất sớm.
Nguyễn Bỉnh Khiêm và chữ nhàn
Nguyễn Bỉnh Khiêm sống thế kỷ XVI, đỗ Trạng nguyên, làm quan một thời gian rồi về quê ở Vĩnh Bảo, nay thuộc Hải Phòng, dựng am Bạch Vân. Thơ chữ Hán của ông trong Bạch Vân am thi tập và thơ Nôm trong Bạch Vân quốc ngữ thi nhắc nhiều đến chữ nhàn. Bài thơ Nôm quen thuộc mở bằng câu một mai, một cuốc, một cần câu, có cặp câu ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến chốn lao xao, và kết bằng hình ảnh nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
Cặp dại – khôn trong bài thơ rất gần với một giọng quen của Đạo Đức Kinh. Chương 20 tả người đời ai cũng hớn hở, ai cũng có thừa, riêng mình như kẻ thiếu, lòng như lòng kẻ ngu. Cái dại tự nhận ở đây là một lời mỉa mai nhẹ nhàng với cái khôn của chốn tranh giành. Hình ảnh phú quý tựa chiêm bao cũng vang vọng điển mộng của Trang Tử.
Tuy vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải nhà Đạo gia theo nghĩa trường phái. Ông vẫn là nhà nho, vẫn dạy học trò, vẫn được các triều đình hỏi ý. Chữ nhàn của ông là nhàn của người đã đi qua quan trường, chọn khoảng cách với danh lợi, chứ không phải thoát ly xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu xem đây là sự hoà trộn tiêu biểu: thân phận Nho, tâm thế Lão – Trang. Cũng nên lưu ý việc định tác giả cho một số bài thơ Nôm truyền tụng còn được giới văn bản học xem xét.
Tri túc và những chữ Lão Tử đi vào thơ nhà nho
Tri túc, biết đủ. Chương 44 Đạo Đức Kinh nói biết đủ thì không nhục, biết dừng thì không nguy; chương 46 nói không hoạ nào lớn hơn không biết đủ. Chữ tri túc đi vào câu đối, hoành phi, thư pháp tặng như một lời nhắc về chừng mực.
Chữ nhàn. Nhàn trong thơ trung đại không phải nhàn rỗi, mà là tâm thế không bị việc đời cuốn đi. Nó vừa có gốc Nho, ở chỗ người quân tử khi không được dùng thì lui về, vừa có màu Lão – Trang ở chỗ coi nhẹ danh lợi, quý tự nhiên.
Vô vi và thanh tĩnh. Các chữ này xuất hiện trong văn bia, thơ đề vịnh cảnh chùa quán, thường mang nghĩa chung là yên lặng, không bon chen, chứ không phải lý thuyết trị nước như trong Lão Tử.
Ngư và tiều. Hình ảnh ông chài, ông tiều trong thơ và tranh có gốc ở nhiều nguồn, trong đó có thiên Ngư phủ của sách Trang Tử. Người Việt quen hình ảnh này qua truyện thơ, tranh dân gian và các cuộc đối đáp ngư tiều.
Một lưu ý khi đọc. Một chữ có gốc Lão – Trang không có nghĩa tác giả theo Lão – Trang. Các chữ ấy đã thành vốn chung của văn chương chữ Hán, người viết dùng như dùng điển, nhiều khi chỉ để tạo không khí.
Hành và tàng: vì sao nhà nho cần đến Lão – Trang
Để hiểu vì sao Lão – Trang có chỗ đứng trong tâm thế nhà nho Việt, cần nhìn vào cặp khái niệm hành và tàng. Sách Luận ngữ có ý được dùng thì ra làm việc, bị bỏ thì lui về ẩn. Bản thân Nho học đã cho phép người quân tử lui về, nhưng nói rất ít về việc sống ra sao khi đã lui về, ngoài việc giữ mình và dạy học.
Khoảng trống ấy được Lão – Trang lấp đầy. Họ cung cấp cả một kho hình ảnh và lập luận để người ở ẩn thấy cuộc sống của mình có giá trị tự thân, không chỉ là chờ thời: con rùa kéo đuôi trong bùn, cây xư vô dụng mà sống lâu, nước ở chỗ thấp mà muôn dòng đổ về, biết đủ thì không nhục. Một người vừa rời quan trường vì thời cuộc, vì bất đắc chí hay vì tuổi già, tìm thấy ở đó lời biện hộ cho lựa chọn của mình.
Cũng vì thế mà chữ nhàn trong thơ Việt thường mang hai lớp cảm xúc đan nhau: một lớp thanh thản thật, một lớp ngậm ngùi của người có chí mà không gặp thời. Đọc thơ nhàn mà chỉ thấy thanh thản là bỏ mất lớp thứ hai, còn chỉ thấy bất đắc chí là bỏ mất lớp thứ nhất. Hiểu cặp hành – tàng giúp bạn đọc các bài thơ ấy đúng với độ phức tạp của người viết.
Nguyễn Công Trứ: hành lạc và ngất ngưởng
Nguyễn Công Trứ, sống cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, là trường hợp thú vị vì ông nổi tiếng với chí làm trai nhập thế, làm quan, khẩn hoang, đánh dẹp. Thế nhưng trong các bài hát nói, nhất là sau khi về hưu, ông viết nhiều về chữ nhàn, thú hành lạc và thái độ ngất ngưởng, coi khen chê được mất như nhau.
Bài ca ngất ngưởng tự hoạ một con người đã làm đủ việc đời, giờ cưỡi bò vàng đeo nhạc ngựa đi chơi chùa, coi được mất như chuyện tái ông mất ngựa. Điển tái ông lấy từ sách Hoài Nam Tử, một văn bản thuộc dòng Đạo gia đời Hán. Câu thơ kiếp sau xin chớ làm người, làm cây thông đứng giữa trời mà reo, thường được truyền tụng là của ông, cũng mang tinh thần muốn thoát khỏi vòng ràng buộc của kiếp người.
Ở Nguyễn Công Trứ, Lão – Trang không đối lập với Nho mà là mặt sau của nó: khi đang hành thì theo Nho, khi đã tàng thì mượn Lão – Trang để giữ sự tự tại. Nhiều nhà nghiên cứu văn học thấy đây là một mô thức chung của nhà nho Việt, thể hiện rất rõ ở thể hát nói.
Điển tích, thành ngữ gốc Lão – Trang trong tiếng Việt
Nhiều cách nói hằng ngày có gốc từ các sách Lão – Trang hoặc dòng Đạo gia đời Hán. Bảng dưới gom những cái thường gặp, kèm nguồn được truy về. Một số thành ngữ có thể có nhiều nguồn song song.
| Cách nói | Nguồn thường được truy về | Nghĩa trong tiếng Việt |
|---|---|---|
| Cánh Bằng, chí Bằng | Trang Tử, thiên Tiêu dao du | Chí lớn, đi xa |
| Giấc hồ điệp, Trang Chu mộng bướm | Trang Tử, thiên Tề vật luận | Đời như giấc mộng |
| Triêu tam mộ tứ | Trang Tử, thiên Tề vật luận | Thay đổi bề ngoài mà thực chất không đổi |
| Ếch ngồi đáy giếng | Thường truy về Trang Tử, thiên Thu thuỷ | Tầm nhìn hẹp |
| Tái ông mất ngựa | Hoài Nam Tử | Hoạ phúc khó lường, đừng vội vui buồn |
| Tri túc, biết đủ | Đạo Đức Kinh, chương 44, 46 | Chừng mực, không tham |
| Thượng thiện nhược thuỷ | Đạo Đức Kinh, chương 8 | Sống như nước: khiêm, lợi người, không tranh |
| Bào Đinh, tay nghề như Bào Đinh | Trang Tử, thiên Dưỡng sinh chủ | Tay nghề thuần thục đến tự nhiên |
Biết nguồn của các cách nói này giúp bạn dùng chúng chính xác hơn, ví dụ hiểu rằng giấc hồ điệp trong nguyên văn không mang giọng buồn bã như trong nhiều câu thơ đời sau.
Thế kỷ XX đến nay: dịch thuật và đọc lại
Thế kỷ XX, cùng với chữ quốc ngữ, Đạo Đức Kinh và Nam Hoa kinh được dịch và chú giải sang tiếng Việt hiện đại. Những tên thường được nhắc gồm Nhượng Tống với bản dịch Nam Hoa kinh, Thu Giang Nguyễn Duy Cần và Nguyễn Hiến Lê với các sách giới thiệu cả Lão Tử lẫn Trang Tử. Mỗi người dịch có cách hiểu và phong cách riêng; đọc đối chiếu vài bản giúp thấy độ rộng của văn bản. Bài không đánh giá bản nào hơn bản nào.
Các trường đại học có ngành triết học, Hán Nôm, văn hoá học giảng Lão – Trang trong lịch sử triết học phương Đông. Song song, Lão – Trang được đọc rộng rãi ngoài học đường như sách về cách sống: chậm lại, bớt tranh, sống thuận tự nhiên. Xu hướng này mang lại nhiều điều tốt, nhưng cũng sinh ra không ít câu trích sai và cách hiểu đơn giản hoá.
Một hiểu lầm phổ biến là đồng nhất Lão – Trang với bi quan, yếm thế. Đọc kỹ thì cả hai văn bản đều giàu sức sống và hài hước, chỉ đặt câu hỏi về những giá trị mà xã hội coi là đương nhiên. Hiểu lầm thứ hai là coi chữ nhàn như cái cớ để lười. Chữ nhàn trong thơ nhà nho luôn đi sau một đời làm việc, và là lựa chọn của người biết mình đang từ chối điều gì.
Câu hỏi thường gặp
Bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có ảnh hưởng Lão – Trang không?
Nhiều nhà nghiên cứu thấy có. Cặp dại – khôn gần giọng chương 20 Đạo Đức Kinh, hình ảnh phú quý tựa chiêm bao gần điển mộng của Trang Tử. Tuy vậy ông vẫn là nhà nho, và chữ nhàn của ông là sự hoà trộn giữa lý tưởng ở ẩn của Nho với tâm thế Lão – Trang.
Việt Nam có trường phái Đạo gia riêng không?
Không có tư liệu cho thấy một trường phái Đạo gia riêng với truyền thừa và tác phẩm lý luận như ở Trung Hoa. Lão – Trang đi vào Việt Nam chủ yếu qua văn chương nhà nho, tinh thần Tam giáo và các điển tích, còn Đạo giáo như tín ngưỡng là một mảng riêng.
Tri túc nghĩa là gì và lấy từ đâu?
Tri túc là biết đủ. Ý này nổi bật trong Đạo Đức Kinh: chương 44 nói biết đủ thì không nhục, chương 46 nói không hoạ nào lớn hơn không biết đủ. Chữ này về sau thành vốn chung của văn chương, thư pháp và lời răn trong gia đình.
Tái ông mất ngựa có phải của Trang Tử không?
Không. Câu chuyện tái ông mất ngựa lấy từ sách Hoài Nam Tử đời Hán, một bộ sách lấy tư tưởng Đạo gia làm khung. Vì cùng dòng tư tưởng nên người ta hay gắn chung với Lão – Trang, nhưng khi trích nên ghi đúng nguồn.
Chữ nhàn có phải là lười biếng không?
Không. Trong thơ trung đại, nhàn là tâm thế không bị danh lợi cuốn đi, thường của người đã làm việc, làm quan rồi chọn lui về. Đọc nhàn như lười là bỏ mất phần lựa chọn có ý thức mà các nhà thơ gửi vào chữ này.
Muốn tìm hiểu Lão – Trang trong văn học Việt nên bắt đầu từ đâu?
Có thể bắt đầu bằng thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, các bài hát nói của Nguyễn Công Trứ, rồi đọc đối chiếu với những chương Đạo Đức Kinh và thiên Trang Tử mà chúng gợi lại. Các giáo trình văn học trung đại của các trường đại học cũng có phần phân tích ảnh hưởng Tam giáo.