Trong Kinh Dịch, tứ tượng là bốn hình gồm hai vạch chồng lên nhau: thái dương (hai vạch dương), thiếu âm (dương dưới, âm trên), thiếu dương (âm dưới, dương trên) và thái âm (hai vạch âm). Khái niệm này đến từ một câu trong thiên Hệ từ: "Dịch hữu Thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái", đại ý Dịch có Thái cực, Thái cực sinh hai nghi, hai nghi sinh bốn tượng, bốn tượng sinh tám quẻ.
Nghe thì gọn, nhưng câu này đã được các đời hiểu rất khác nhau: có người đọc "tứ tượng" là bốn mùa, có người đọc là bốn con số dùng khi lập quẻ, có người đọc là bước trung gian khi chồng vạch. Bài này đi qua từng cách hiểu, chỉ ra cách nào phổ biến nhờ ai, và tách tứ tượng của Kinh Dịch khỏi những khái niệm trùng tên dễ gây nhầm.
Câu gốc trong Hệ từ và bối cảnh của nó
Câu "Dịch hữu Thái cực…" nằm ở phần Hệ từ thượng, thuộc chương thứ mười một theo cách chia chương phổ biến từ bản của Chu Hy. Câu văn còn kéo dài: bát quái định cát hung, cát hung sinh đại nghiệp. Đặt trong mạch văn, đoạn này đang bàn về việc thánh nhân dùng Dịch để hiểu sự biến hoá của trời đất và làm nên sự nghiệp, chứ không phải một chương riêng giảng về vũ trụ sinh thành.
Điều đáng chú ý là Hệ từ chỉ nêu các tên gọi Thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng mà không định nghĩa chúng. Văn bản không nói lưỡng nghi là âm và dương, cũng không nói tứ tượng gồm bốn hình nào. Toàn bộ nội dung cụ thể mà ta thấy hôm nay, như bốn hình hai vạch với bốn tên thái dương, thiếu âm, thiếu dương, thái âm, là phần các nhà chú giải đời sau lấp vào.
Thiên Hệ từ thuộc nhóm Thập Dực, lớp truyện mà truyền thống gán cho Khổng Tử. Giới nghiên cứu hiện đại phần lớn cho rằng nó được soạn và tích tụ trong khoảng cuối Chiến Quốc đến đầu Hán; bản Hệ từ trong bộ lụa Mã Vương Đôi cũng cho thấy văn bản từng có những dị bản. Vì vậy khi nói "Kinh Dịch dạy rằng Thái cực sinh lưỡng nghi…", chính xác hơn là nói "thiên Hệ từ có câu…".
Bốn hình tứ tượng theo cách hiểu phổ biến
Cách hiểu thông dụng nhất hôm nay đến từ Thiệu Ung và Chu Hy đời Tống: mỗi tượng là một cặp vạch, đọc từ dưới lên, và mỗi tượng sinh ra hai quẻ đơn khi thêm vạch thứ ba.
| Tượng | Vạch dưới | Vạch trên | Con số khi lập quẻ | Sinh ra hai quẻ đơn |
|---|---|---|---|---|
| Thái dương | Dương | Dương | 9 (lão dương) | Càn, Đoài |
| Thiếu âm | Dương | Âm | 8 | Ly, Chấn |
| Thiếu dương | Âm | Dương | 7 | Tốn, Khảm |
| Thái âm | Âm | Âm | 6 (lão âm) | Cấn, Khôn |
Bảng cho thấy một logic tổ hợp chặt chẽ: một vạch có hai khả năng, hai vạch có bốn, ba vạch có tám. Vì thế thứ tự Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn mà Thiệu Ung đưa ra không phải tuỳ tiện, nó là kết quả của việc chia đôi liên tiếp. Ông diễn đạt phép này bằng cụm "nhất phân vi nhị" (một chia làm hai), còn người cùng thời như Trình Hạo gọi gọn là phép "gia nhất bội" (mỗi lần thêm một vạch thì số hình gấp đôi).
Cột con số cần đọc cẩn thận. Bốn số 6, 7, 8, 9 đến từ phép đếm cỏ thi mô tả trong Hệ từ; 9 và 6 là hào "già" (sẽ biến), 7 và 8 là hào "trẻ" (giữ nguyên). Việc ghép bốn số này với bốn tượng là một cách giải thích của các nhà chú giải, không phải điều Hệ từ nói thẳng.
Các cách hiểu "tứ tượng" qua các đời
Tứ tượng là bốn mùa. Nhiều chú giải đời Hán – Đường đọc lưỡng nghi là trời và đất, tứ tượng là bốn mùa xuân hạ thu đông. Cách hiểu này hợp với mạch văn Hệ từ, vốn hay đặt Dịch bên cạnh sự vận hành của trời đất và thời tiết.
Tứ tượng là bốn hành. Có cách giải ghép tứ tượng với kim, mộc, thuỷ, hoả, còn thổ được coi là phần ở giữa không tính riêng. Cách này phản ánh xu hướng đời Hán muốn nối Dịch với thuyết ngũ hành, hai hệ vốn hình thành độc lập.
Tứ tượng là bốn con số của hào. Một hướng khác gắn tứ tượng với 9, 8, 7, 6 trong phép bói cỏ thi, tức bốn trạng thái của một hào: dương già, âm trẻ, dương trẻ, âm già. Cách này bám vào thực hành lập quẻ mà Hệ từ mô tả ở chương khác.
Tứ tượng là bước chồng vạch thứ hai. Thiệu Ung và Chu Hy đọc cả câu như một quy trình tổ hợp: một vạch (lưỡng nghi), hai vạch (tứ tượng), ba vạch (bát quái), và tiếp tục chồng lên tới sáu vạch là 64 quẻ. Nhờ vị thế của Chu Hy trong giáo dục khoa cử Đông Á, cách hiểu này trở thành phổ biến nhất.
Các cách hiểu không hẳn loại trừ nhau. Chu Hy chính ông cũng ghép bốn tượng hai vạch với bốn con số 9, 8, 7, 6 khi trình bày phép lập quẻ, tức là gộp hai cách hiểu làm một. Vấn đề chỉ là người đọc nên biết lớp nào thuộc văn bản gốc, lớp nào là hệ thống hoá về sau.
Tứ tượng và tư duy chia đôi
Nhìn từ hôm nay, điều đáng giá nhất của khái niệm tứ tượng là cách nó thể hiện một kiểu tư duy: lấy một cặp đối lập rồi chia đôi tiếp từng vế. Dương được chia thành dương trong dương (thái dương) và âm trong dương (thiếu âm); âm được chia thành dương trong âm (thiếu dương) và âm trong âm (thái âm). Mỗi bước chia làm tăng độ mịn của bảng phân loại mà vẫn giữ quan hệ với gốc.
Kiểu chia này giải thích được vì sao các nhà Dịch học thích nói "trong dương có âm, trong âm có dương". Thiếu âm và thiếu dương là hai trạng thái lẫn, nơi một bên đã bắt đầu lớn lên trong lòng bên kia. Áp vào bốn mùa, mùa xuân là dương đang lớn trong âm, mùa thu là âm đang lớn trong dương; mùa hạ và mùa đông là hai cực. Đây là lý do cách hiểu "bốn mùa" và cách hiểu "bốn hình hai vạch" khớp được với nhau khá tự nhiên.
Tuy nhiên cũng nên tỉnh táo: chia đôi liên tiếp là một công cụ phân loại tiện lợi, không phải một định luật tự nhiên. Thế giới không tự chia thành bốn hay tám ngăn; chính người dùng chọn tiêu chí để xếp vật vào ngăn. Đọc tứ tượng như một sáng tạo trí tuệ thì thấy được cái hay, còn coi nó là bản đồ vũ trụ đã được kiểm chứng thì dễ đi lạc.
Vì sao 9 và 6 là "già", 7 và 8 là "trẻ"
Cách hiểu tứ tượng như bốn con số dễ gây thắc mắc nhất, nên đáng giải thích kỹ. Theo phép cỏ thi trong Hệ từ, sau ba lần chia đếm, số còn lại quy ra một trong bốn giá trị 6, 7, 8, 9. Số lẻ thuộc dương, số chẵn thuộc âm; 9 là số dương lớn nhất trong bốn số, 6 là số âm nhỏ nhất. Quan niệm "vật cực tắc phản", cái gì tới cực điểm thì quay ngược, khiến 9 và 6 được coi là trạng thái già, sắp đổi sang phía kia.
Nhờ vậy một hào ra 9 sẽ là hào dương đang biến thành âm, một hào ra 6 là hào âm đang biến thành dương; 7 và 8 là hào đứng yên. Ghép với tứ tượng: thái dương (dương trong dương) ứng 9, thái âm (âm trong âm) ứng 6, còn hai tượng "thiếu" là trạng thái non, ổn định hơn. Vì thế các bản dịch hay gọi thái dương là lão dương, thái âm là lão âm.
Điều cần nói rõ là phần giải thích này thuộc truyền thống chú giải, và các nhà nghiên cứu xác suất đã chỉ ra phép cỏ thi cho bốn số với tần suất không đều nhau. Đọc như lịch sử tư tưởng, giá trị của nó nằm ở ý tưởng "cực thì biến", không nằm ở việc dùng con số để đoán việc.
Những khái niệm trùng tên dễ gây nhầm
Chữ "tứ tượng" xuất hiện ở ít nhất ba lĩnh vực khác nhau. Người đọc tài liệu tiếng Việt rất hay gặp chúng trộn vào nhau:
- Tứ tượng trong thiên văn cổ: bốn chòm lớn của bầu trời là Thanh Long (phương đông), Bạch Hổ (phương tây), Chu Tước (phương nam), Huyền Vũ (phương bắc), mỗi chòm gồm bảy trong Nhị thập bát tú. Đây là hệ chia trời, có nguồn gốc khác với câu Hệ từ.
- Tứ tượng trong y học: ở Triều Tiên thế kỷ XIX có một trường phái y học chia người thành bốn thể tạng dùng tên thái dương, thiếu dương, thái âm, thiếu âm. Trường phái này mượn tên gọi từ Dịch học nhưng là một hệ lý luận riêng, không nên đánh đồng với Kinh Dịch.
- Tứ tượng trong Thái cực đồ của Chu Đôn Di: đồ hình này nói Thái cực động sinh dương, tĩnh sinh âm, rồi sinh ngũ hành, không đi qua bước tứ tượng. Hai sơ đồ sinh thành, một của Hệ từ qua tay Thiệu Ung, một của Chu Đôn Di, là hai mô hình khác nhau mà Chu Hy đã cố gắng hoà giải.
- Tứ tượng trong các hình vẽ âm dương phổ thông: hình vòng tròn đen trắng hay được gọi chung là "Thái cực", đôi khi bị gắn nhãn là "lưỡng nghi" hay "tứ tượng" tuỳ tiện. Các nhãn này thường không có nguồn văn bản cụ thể.
Khi gặp chữ tứ tượng, câu hỏi đầu tiên nên đặt là: đây là tứ tượng của Dịch, của thiên văn, của y học, hay một cách dùng phổ thông?
Đọc câu "lưỡng nghi sinh tứ tượng" hôm nay cho đúng
Có ba điều nên giữ khi trích câu này. Thứ nhất, ghi đúng nguồn: đây là câu trong Hệ từ truyện, không phải lời quẻ hay lời hào. Thứ hai, nêu rõ đang theo cách hiểu nào: cách hiểu bốn hình hai vạch là cách của Thiệu Ung – Chu Hy, được phổ biến từ đời Tống. Thứ ba, tránh trình bày câu này như một "mô hình khoa học về sự hình thành vũ trụ"; nó là một mô hình tư tưởng, có giá trị lịch sử và triết học riêng.
Với người làm nội dung, thiết kế hay giảng dạy, phân biệt được những lớp ấy giúp bài viết đáng tin hơn hẳn. Một hình minh hoạ xếp Thái cực → lưỡng nghi → tứ tượng → bát quái theo kiểu cây chia đôi là trung thành với cách hiểu Thiệu Ung, nhưng chú thích nên ghi đó là sơ đồ đời Tống, không phải hình vẽ có từ thời Chu.
Còn với người chỉ muốn hiểu vì sao bát quái lại có tám quẻ, tứ tượng là chiếc cầu nối dễ nhất: hai khả năng cho mỗi vạch, ba vạch là tám tổ hợp, không hơn không kém. Hiểu điều đó thì bát quái bớt đi rất nhiều vẻ bí ẩn mà các tài liệu phổ thông hay khoác lên nó.
Câu hỏi thường gặp
Tứ tượng gồm những gì?
Theo cách hiểu phổ biến từ đời Tống, tứ tượng gồm bốn hình hai vạch: thái dương (hai vạch dương), thiếu âm (dương dưới, âm trên), thiếu dương (âm dưới, dương trên), thái âm (hai vạch âm). Mỗi tượng thêm một vạch nữa sẽ sinh ra hai trong tám quẻ đơn của bát quái.
Thiếu âm có phải là âm ít không?
Không hẳn. Thiếu ở đây nghĩa là trẻ, non. Thiếu âm là âm mới sinh nằm trên nền dương, thiếu dương là dương mới sinh nằm trên nền âm. Vì thế thiếu âm có vạch dưới là dương; đọc tên mà đoán hình rất dễ nhầm, nên học thuộc hình bằng bảng.
Câu Thái cực sinh lưỡng nghi có phải của Lão Tử không?
Không. Câu này nằm trong thiên Hệ từ thượng, một thiên trong Thập Dực đi kèm Kinh Dịch. Đạo Đức Kinh có câu khác về sự sinh thành, đại ý Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật. Hai câu hay bị trộn lẫn trong tài liệu phổ thông.
Tứ tượng có liên quan đến bốn con vật Thanh Long, Bạch Hổ không?
Đó là hai khái niệm khác nhau dùng chung tên gọi. Tứ tượng của thiên văn cổ chỉ bốn vùng trời gắn với bốn linh vật; tứ tượng của Hệ từ là bước giữa lưỡng nghi và bát quái. Một số tài liệu đời sau có ghép hai hệ với nhau, nhưng đó là phần thêm vào.
Vì sao thái dương ứng với số 9 và thái âm ứng với số 6?
Trong phép đếm cỏ thi mà Hệ từ mô tả, mỗi hào ra một trong bốn số 6, 7, 8, 9. Số 9 là dương đã cực nên sẽ biến, số 6 là âm đã cực. Các nhà chú giải ghép bốn số này với bốn tượng; đây là cách giải thích hệ thống hoá, không phải câu chữ của Hệ từ.
Có nên dạy tứ tượng cho học sinh khi giới thiệu văn hoá phương Đông?
Có thể, nếu trình bày như một mô hình tư duy và một phần lịch sử tư tưởng. Tứ tượng là ví dụ dễ hiểu về phép chia đôi và tổ hợp, gần với toán học. Nên kèm nguồn văn bản và nói rõ đây là cách hiểu đời Tống, tránh trình bày như kiến thức khoa học tự nhiên.