HocThuyet.comHọc Thuyết
Bát quái, Hà đồ, Lạc thư

Tranh luận Hà đồ – Lạc thư: từ Lưu Mục, Chu Hy đến Hồ Vị đời Thanh

Hình Hà đồ, Lạc thư từ đâu ra, ai đặt tên, ai bác bỏ? Bài kể cuộc tranh luận "đồ thư" kéo dài từ đời Tống tới đời Thanh và điều khảo cổ học hiện đại bổ sung.

Rows of old wooden printing blocks stacked on shelves in a dim temple storeroom in Bac Ninh, carved surfaces seen edge-on and unreadable, a hand dusting one block

Cuộc tranh luận về Hà đồ – Lạc thư xoay quanh câu hỏi: những hình chấm đen trắng mang hai cái tên ấy có thật sự là di sản thời thượng cổ, hay là sáng tạo của học giả đời Tống. Đời Tống, Lưu Mục và Chu Hy đưa đồ hình vào trung tâm Dịch học dù đặt tên ngược nhau; đời Thanh, các nhà khảo chứng như Hồ Vị, Hoàng Tông Hy chứng minh chúng không có nguồn cổ.

Đây là một trong những cuộc tranh luận hay nhất của lịch sử tư tưởng Đông Á, vì nó không chỉ hỏi về hai hình vẽ mà hỏi về cách chúng ta biết điều gì là cổ, điều gì là thật. Bài này kể lại các chặng chính, giới thiệu lập luận của mỗi bên, và điều khảo cổ học hiện đại góp thêm.

Trước đời Tống: có tên, không có hình

Như các văn bản thời Chu – Hán cho thấy, Hà đồ và Lạc thư từng là hai cái tên của vật thiêng, điềm lành, rồi trong văn học sấm vĩ đời Hán thành tên của những văn bản tiên tri. Không văn bản nào trước đời Tống còn lại mô tả chúng là các hình chấm. Đời Hán đã có ý tưởng chín cung với tổng không đổi và có đoạn số trời đất 55 trong Hệ từ, nhưng chưa ai đặt hai thứ đó dưới hai cái tên Hà đồ, Lạc thư theo cách chúng ta hiểu.

Điểm xuất phát này rất quan trọng cho cả cuộc tranh luận. Phe bảo vệ đồ hình nói: người xưa đã có các con số, đời Tống chỉ phục dựng hình vẽ đã thất truyền. Phe phản bác nói: việc có con số không chứng minh đã có hình, và việc gán tên cổ cho hình mới là tạo ra một nguồn gốc giả. Hai lập luận đều dựa vào cùng một kho tư liệu nhưng đọc khác nhau.

Cũng nên biết rằng ngay từ đời Tống đã có người nghi ngờ. Âu Dương Tu, trong Dịch đồng tử vấn, đặt câu hỏi về việc thiên Hệ từ có phải của Khổng Tử hay không, và chính đoạn nói đến Hà đồ là một trong những chỗ ông thấy khó tin. Sự hoài nghi vì vậy không phải phát minh của đời Thanh.

Đời Bắc Tống: đồ hình xuất hiện và Lưu Mục

Nguồn gốc theo ghi chép của Chu Chấn. Chu Chấn đời Nam Tống ghi rằng các đồ hình Dịch học có nguồn từ Trần Đoàn thời Ngũ Đại – đầu Tống; một dòng qua Chủng Phóng và nhiều người khác tới Lưu Mục với Hà đồ – Lạc thư, một dòng khác tới Thiệu Ung với sơ đồ Tiên thiên. Ghi chép này được dẫn rộng rãi nhưng độ chính xác vẫn bị bàn cãi.

Lưu Mục và Dịch số câu ẩn đồ. Lưu Mục là người công bố một loạt đồ hình Dịch học trong Dịch số câu ẩn đồ (đại ý: đồ hình tìm những điều sâu kín trong số của Dịch). Ông gọi hình chín số là Hà đồ, hình mười số là Lạc thư, ngược với cách gọi phổ biến ngày nay.

Lý lẽ chi tiết khó kiểm. Tác phẩm của Lưu Mục đến với đời sau qua các bản truyền lại, nên vì sao ông chọn cách gọi như vậy được các học giả tái dựng theo nhiều cách khác nhau. Điều chắc chắn hơn là ông coi các đồ hình số là cầu nối giữa đoạn số trời đất của Hệ từ với bát quái, và muốn chứng minh rằng mọi quẻ đều có thể suy ra từ con số.

Ảnh hưởng. Trong một thời gian, cách gọi của Lưu Mục khá phổ biến. Nó cho thấy việc gán tên nào cho hình nào phụ thuộc vào lập luận của từng học giả, chứ không có một truyền thống cổ xưa thống nhất để dựa vào.

Chu Hy đảo tên và đưa đồ hình vào chính điển

Chu Hy cùng học trò, người cộng sự Thái Nguyên Định, soạn Dịch học khải mông, mở đầu bằng chương bàn về Hà đồ – Lạc thư. Họ đảo lại cách gọi của Lưu Mục: hình mười số là Hà đồ, hình chín số là Lạc thư. Lý lẽ chính là đoạn số trời đất trong Hệ từ, với tổng 55 trùng với tổng của hình mười số, nên hình này phải là thứ gắn với việc làm ra Dịch.

Chu Hy còn đặt Hà đồ, Lạc thư cùng các sơ đồ của Thiệu Ung lên đầu sách Chu Dịch bản nghĩa. Hệ quả lớn nhất đến từ chính trị giáo dục: từ đời Nguyên, chú giải của Chu Hy được dùng làm chuẩn trong khoa cử, và sang đời Minh các bộ đại toàn tiếp tục theo ông. Hàng trăm năm, mọi thí sinh học Kinh Dịch đều học Hà đồ, Lạc thư theo cách gọi của Chu Hy, trong đó có sĩ tử Việt Nam thời Lê – Nguyễn.

Điều đáng chú ý là chính Chu Hy cũng ghi nhận các đồ hình Tiên thiên có liên hệ với dòng truyền từ Trần Đoàn tới Thiệu Ung. Ông vẫn coi chúng có giá trị vì cho rằng chúng diễn đạt đúng lý của Dịch, dù con đường truyền thì không rõ. Đây là thái độ coi trọng nội dung hơn nguồn gốc, khác hẳn thái độ của các nhà khảo chứng về sau.

Các bên chính trong cuộc tranh luận

Bảng dưới tóm lược lập trường của những nhân vật được nhắc nhiều nhất. Đây là khái quát; mỗi người có những lập luận tinh tế hơn trong tác phẩm của mình.

Nhân vậtThờiTác phẩm liên quanLập trường chính
Lưu MụcBắc TốngDịch số câu ẩn đồCông bố đồ hình; Hà đồ chín số, Lạc thư mười số
Âu Dương TuBắc TốngDịch đồng tử vấnNghi Hệ từ, nghi chuyện Hà đồ
Thiệu UngBắc TốngHoàng cực kinh thếDựng sơ đồ Tiên thiên, học tượng số
Chu Hy, Thái Nguyên ĐịnhNam TốngDịch học khải mông; Chu Dịch bản nghĩaĐảo tên: Hà đồ mười, Lạc thư chín; đưa đồ hình vào chính điển
Hoàng Tông HyCuối Minh – đầu ThanhDịch học tượng số luậnPhê phán các đồ hình và tượng số đời Tống
Hoàng Tông ViêmĐầu ThanhĐồ học biện hoặcBác nguồn gốc cổ của đồ hình
Hồ VịĐầu ThanhDịch đồ minh biệnLần ngược nguồn gốc, kết luận đồ hình không thuộc Dịch cổ

Nhìn bảng, có thể thấy cuộc tranh luận kéo dài khoảng sáu thế kỷ. Đồ hình thắng thế nhờ uy tín của Chu Hy và hệ thống khoa cử, rồi bị thách thức mạnh khi học thuật đời Thanh chuyển sang khảo chứng, tức kiểm tra văn bản bằng chứng cứ.

Hồ Vị và trường phái khảo chứng đời Thanh

Đầu đời Thanh, một thế hệ học giả chủ trương trở lại với văn bản gốc, kiểm từng chữ, từng nguồn. Với Dịch học, họ nhắm thẳng vào đồ hình đời Tống. Hoàng Tông Hy và em là Hoàng Tông Viêm đã viết những tác phẩm phê phán, nhưng công trình được coi là có sức nặng nhất thuộc về Hồ Vị với Dịch đồ minh biện, nghĩa là "biện rõ các đồ hình của Dịch".

Phương pháp của Hồ Vị là lần ngược từng hình về nguồn tư liệu sớm nhất của nó, chỉ ra khoảng trống dài giữa thời được cho là gốc và lần xuất hiện đầu tiên, rồi chỉ ra các mối liên hệ với truyền thống Đạo gia – Đạo giáo qua nhân vật Trần Đoàn và các văn bản luyện dưỡng. Kết luận của ông: đồ hình là sáng tạo hậu kỳ, có thể có giá trị riêng nhưng không phải phần của Kinh Dịch thời cổ, và không nên đặt lên đầu kinh.

Các nhà biên soạn Tứ khố toàn thư cuối thế kỷ XVIII đánh giá cao các công trình phê phán này, và từ đó trong giới học thuật, việc coi Hà đồ – Lạc thư dạng chấm là sản phẩm đời Tống trở thành quan điểm chủ đạo. Tuy vậy trong sách phổ thông và trong các thực hành ứng dụng, hình ảnh Hà đồ – Lạc thư "của Phục Hy, của Đại Vũ" vẫn tồn tại song song cho tới hôm nay.

Khảo cổ học hiện đại góp thêm gì

Thế kỷ XX mang lại một số hiện vật làm cuộc tranh luận có thêm chiều mới, dù chưa đóng lại nó:

  • Chiếc bàn chiêm chín cung trong mộ Tây Hán ở Song Cổ Đôi (An Huy), tìm thấy năm 1977, cho thấy cách xếp số kiểu Lạc thư đã được dùng từ đời Hán. Điều này ủng hộ phe nói con số có từ sớm, nhưng không chứng minh tên Lạc thư đã gắn với nó.
  • Các bản Chu Dịch trên lụa ở Mã Vương Đôi và trên thẻ tre Thượng Bác cho thấy văn bản Dịch cổ không kèm hình Hà đồ, Lạc thư nào. Đây là chứng cứ im lặng, nhưng phù hợp với kết luận của Hồ Vị.
  • Một số hiện vật thời tiền sử có hoa văn tám cánh hay chia ô được vài nhà nghiên cứu liên hệ với bát quái, Lạc thư. Các liên hệ này còn mang tính giả thuyết và gây tranh luận trong giới khảo cổ.
  • Nghiên cứu lịch sử toán học cho thấy ma phương chín ô được biết tới ở nhiều nền văn hoá, nên tính độc đáo của Lạc thư nằm ở vị trí văn hoá của nó hơn là ở bản thân con số.

Tổng hợp lại, quan điểm khá phổ biến hiện nay là: các ý tưởng số học đứng sau Hà đồ – Lạc thư có gốc đời Hán hoặc sớm hơn; còn hình chấm và việc đặt tên ổn định thuộc về đời Tống.

Ở Việt Nam và bài học về phương pháp

Ở Việt Nam, Hà đồ – Lạc thư đến qua sách vở khoa cử theo Chu Hy, nên phần lớn nho sĩ tiếp nhận cách gọi "Hà đồ mười, Lạc thư chín" như điều hiển nhiên. Thế kỷ XX, Kim Định đưa ra thuyết cho rằng Hà đồ – Lạc thư và triết lý âm dương có gốc từ văn hoá Việt cổ; thuyết này có ảnh hưởng trong một bộ phận người đọc, nhưng bị nhiều nhà nghiên cứu phản bác vì thiếu chứng cứ văn bản và khảo cổ. Đây là một quan điểm trong tranh luận, không phải kết luận.

Bài học lớn nhất từ cuộc tranh luận đồ thư là bài học về phương pháp. Một thứ được gọi bằng tên cổ không có nghĩa là thứ cổ. Muốn biết một ý tưởng có từ bao giờ, phải tìm lần xuất hiện sớm nhất có thể kiểm được, và phân biệt "ý tưởng đã có" với "hình thức hiện tại đã có". Các nhà khảo chứng đời Thanh đã làm đúng việc đó cách đây ba trăm năm.

Với người đọc, viết hay dạy về Hà đồ – Lạc thư hôm nay, giữ được sự rạch ròi ấy là đủ: kể truyền thuyết như truyền thuyết, ghi niên đại thật của đồ hình, nêu tên những người đã tranh luận. Như vậy vừa tôn trọng di sản, vừa tôn trọng người đọc.

Câu hỏi thường gặp

Ai là người đầu tiên vẽ Hà đồ và Lạc thư dạng chấm?

Theo tư liệu còn lại, các hình chấm xuất hiện rõ ràng từ đời Bắc Tống, gắn với Lưu Mục, và theo ghi chép của Chu Chấn thì có nguồn từ Trần Đoàn. Trước đó không có văn bản nào còn lại mô tả hình dạng chấm của hai đồ.

Vì sao Lưu Mục và Chu Hy gọi tên ngược nhau?

Mỗi người dựa vào một lập luận riêng. Lưu Mục nối hình chín số với bát quái nên gọi là Hà đồ. Chu Hy dựa vào đoạn số trời đất 55 trong Hệ từ, trùng tổng hình mười số, nên gọi hình mười số là Hà đồ. Cách gọi của Chu Hy thắng nhờ hệ thống khoa cử.

Hồ Vị kết luận điều gì trong Dịch đồ minh biện?

Hồ Vị lần ngược nguồn từng đồ hình và kết luận chúng là sáng tạo từ khoảng đời Tống, có liên hệ với truyền thống Đạo gia qua Trần Đoàn, không phải một phần của Kinh Dịch thời cổ. Ông cho rằng không nên đặt các đồ ấy lên đầu sách kinh.

Nếu đồ hình là của đời Tống thì chúng có còn giá trị không?

Có, nhưng là giá trị của một sáng tạo trí tuệ đời Tống chứ không phải của một văn bản thượng cổ. Đồ hình giúp hình dung các ý tưởng số học của Hệ từ và thể hiện tư duy của Lý học. Điều cần tránh là trình bày sai niên đại của chúng.

Thuyết Hà đồ Lạc thư gốc Việt có được chấp nhận không?

Đây là thuyết do Kim Định và một số người khác đưa ra, có người ủng hộ nhưng nhiều nhà nghiên cứu phản bác vì thiếu chứng cứ văn bản và khảo cổ trực tiếp. Hiện nay nó được coi là một quan điểm trong tranh luận, chưa phải kết luận của giới sử học.

Muốn tìm hiểu sâu về cuộc tranh luận này nên đọc gì?

Bạn có thể tìm các công trình lịch sử Dịch học viết về đời Tống và đời Thanh, các bài nghiên cứu về khảo chứng học Thanh, và bản dịch có chú thích của Dịch học khải mông. Khi đọc, nên chú ý tác giả đứng ở phía bảo vệ hay phê phán đồ hình.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183