Tề vật luận là thiên thứ hai và được coi là thiên khó nhất của sách Trang Tử; nó bàn về việc mọi cách phân định đúng sai, đẹp xấu, lớn nhỏ đều phụ thuộc vào chỗ đứng của người nhìn. Thiên khép lại bằng đoạn văn nổi tiếng nhất của cả sách: Trang Chu mơ thấy mình là con bướm, tỉnh dậy không biết Chu mơ làm bướm hay bướm mơ làm Chu.
Vì giấc mộng hồ điệp đẹp và dễ nhớ, nó thường được trích tách khỏi thiên. Nhưng đặt trong mạch lập luận về thị phi và ngôn ngữ, giấc mộng ấy có nghĩa cụ thể hơn một câu hỏi lãng mạn về thực và mộng. Bài này đi theo trình tự thiên: tên gọi, đoạn mở, phần bàn về thị phi, các ví dụ về chuẩn mực, rồi giấc mộng và chữ vật hoá.
Tên thiên đọc thế nào: tề vật hay tề luận
Chữ tề nghĩa là làm cho ngang bằng, đều nhau. Tên thiên có hai cách ngắt, và mỗi cách dẫn tới một cách hiểu chủ đề. Cách thứ nhất đọc là luận về tề vật, tức bàn về việc muôn vật vốn ngang bằng, không vật nào cao quý hơn vật nào trong cái nhìn của Đạo. Cách thứ hai đọc là tề vật luận theo nghĩa làm ngang bằng các luận thuyết về vật, tức đặt các học thuyết tranh cãi nhau, như Nho và Mặc, lên cùng một mặt phẳng.
Cả hai cách đều có người ủng hộ từ xưa, và nội dung thiên chứa cả hai chủ đề. Phần đầu nặng về các luận thuyết và ngôn ngữ, phần sau nặng về muôn vật và sự chuyển hoá. Biết hai cách ngắt giúp bạn đọc thiên này như một lập luận về nhận thức, không chỉ như một lời tuyên bố mọi thứ đều như nhau.
Bối cảnh lịch sử cũng quan trọng. Thời Chiến Quốc là thời trăm nhà tranh tiếng, các học phái tranh luận gay gắt về đúng sai. Nhóm Danh gia, trong đó có Huệ Thi, bạn của Trang Tử, chuyên bàn về khái niệm và nghịch lý. Tề vật luận là một phản ứng trước không khí ấy: thay vì tham gia tranh cãi bên nào đúng, nó hỏi vì sao tranh cãi kiểu đó không có hồi kết.
Mở đầu: ta đánh mất ta và tiếng sáo trời
Thiên mở bằng cảnh Nam Quách Tử Kỳ ngồi tựa ghế, ngửa mặt lên trời thở dài, thẫn thờ như mất bạn đối của mình. Học trò Nhan Thành Tử Du hỏi: hình hài có thể như cây khô, lòng có thể như tro nguội được sao. Tử Kỳ đáp bằng câu nổi tiếng ngô táng ngã, đại ý là ta đã đánh mất cái ta. Hai chữ ngô và ngã đều là ta, nhưng ở đây một chữ chỉ con người đang sống, chữ kia chỉ bản ngã cố định mà người ấy vừa buông được.
Tử Kỳ giảng tiếp về ba thứ sáo: sáo người là ống tre người thổi, sáo đất là muôn lỗ hổng của núi rừng khi gió thổi qua, mỗi lỗ một âm, và sáo trời. Đoạn tả sáo đất rất dài và giàu âm thanh, với những lỗ như mũi, như miệng, như tai, như chuồng, như cối, phát ra tiếng như nước chảy, tiếng tên bay, tiếng quát, tiếng hít. Khi hỏi sáo trời là gì, Tử Kỳ chỉ nói muôn tiếng khác nhau đều tự phát ra từ chính nó, còn ai làm cho nó phát ra.
Hình ảnh sáo trời thường được hiểu như ẩn dụ cho mọi ý kiến, luận thuyết của con người: mỗi người một lỗ, một âm, đều do cùng một luồng gió thổi qua. Nếu thấy như vậy, ta khó coi tiếng của mình là đúng duy nhất. Đây là nền cho phần bàn về thị phi phía sau.
Thị phi: vì sao tranh luận không có hồi kết
Trang Tử nêu ví dụ Nho và Mặc: bên này cho là đúng điều bên kia cho là sai, bên kia cho là sai điều bên này cho là đúng. Cái này cũng là một thị phi, cái kia cũng là một thị phi. Vấn đề không phải ai thông minh hơn, mà mỗi bên đứng ở một chỗ, nhìn từ chỗ ấy, nên chỉ thấy được phần của mình.
Ông đặt câu hỏi: nếu hai người tranh luận, nhờ ai phân xử. Nhờ người đồng ý với anh thì người ấy đã đồng ý với anh, làm sao xử công bằng. Nhờ người đồng ý với bên kia, hay người khác cả hai, hay người giống cả hai, đều không được. Lập luận này rất gần với điều triết học phương Tây gọi là bài toán tiêu chuẩn: không có chỗ đứng trung lập tuyệt đối để phân xử.
Giải pháp Trang Tử đưa ra không phải là im lặng, mà là chữ minh, sự sáng suốt soi chiếu cả hai phía, và hình ảnh đạo xu, cái trục của Đạo. Đứng ở trục, như ở tâm một vòng tròn, có thể ứng với vô cùng thị phi mà không bị cuốn theo bên nào. Đây không phải chủ nghĩa tương đối kiểu cái gì cũng được, mà là một thái độ nhận thức: biết mọi phán đoán có chỗ đứng của nó.
Người đọc hôm nay thấy đoạn này rất gần với các cuộc tranh cãi trên mạng xã hội, nơi mỗi bên chỉ nghe được tiếng của lỗ sáo mình. Liên hệ ấy hợp tinh thần, dù cần nhớ Trang Tử viết cho bối cảnh tranh luận học phái hơn hai nghìn năm trước.
Ai biết chỗ ở đúng: các ví dụ về chuẩn mực
Trong một đối thoại giữa hai nhân vật Niết Khuyết và Vương Nghê, Trang Tử đưa ra loạt ví dụ để hỏi chuẩn mực có phổ quát không. Đây là đoạn dễ đọc và hay được dạy nhất của thiên:
- Chỗ ở: người ngủ chỗ ẩm thì đau lưng, liệt nửa người, con chạch có vậy không. Người ở trên cây thì run sợ, con khỉ có vậy không. Ba loài ấy, loài nào biết chỗ ở đúng.
- Thức ăn: người ăn thịt gia súc, hươu nai ăn cỏ, con rết thích rắn, cú quạ thích chuột. Bốn loài ấy, loài nào biết vị ngon đúng.
- Cái đẹp: Mao Tường và Lệ Cơ là người con người cho là đẹp, nhưng cá thấy thì lặn sâu, chim thấy thì bay cao, hươu thấy thì chạy mất. Loài nào biết sắc đẹp đúng trong thiên hạ.
- Nhân nghĩa và thị phi: từ những ví dụ trên, Vương Nghê kết luận đầu mối nhân nghĩa, nẻo đường thị phi rối ren lẫn lộn, ông không thể biết sự phân biệt của chúng.
- Chỗ lưu ý: đoạn này không nói nhân nghĩa vô giá trị, mà nói không thể lấy chuẩn của một loài, một nhóm áp đặt thành chuẩn của tất cả. Câu hỏi được đặt ra để tháo sự chắc chắn, không để thay bằng sự chắc chắn ngược lại.
Cũng trong thiên này có chuyện người nuôi khỉ: cho khỉ hạt dẻ sáng ba chiều bốn thì khỉ giận, đổi thành sáng bốn chiều ba thì khỉ mừng. Thực chất không đổi mà vui giận khác nhau. Thành ngữ Hán Việt triêu tam mộ tứ bắt nguồn từ đây. Trang Tử dùng nó để nói người tranh cãi vì những khác biệt chỉ nằm ở cách sắp xếp, và gọi thái độ của người nuôi khỉ là lưỡng hành, hai đường đều đi được.
Giấc mộng hồ điệp và chữ vật hoá
Đoạn kết thiên, đại ý: xưa kia Trang Chu mơ làm bướm, phấp phới là bướm, tự thấy thoả chí, không biết mình là Chu. Chợt tỉnh dậy thì rõ ràng là Chu. Không biết Chu mơ làm bướm hay bướm mơ làm Chu. Chu với bướm thì tất có phân biệt. Thế gọi là vật hoá. Đoạn văn chưa đến trăm chữ nhưng đã nuôi hai nghìn năm bình giải.
Cách hiểu thứ nhất nhấn vào câu hỏi thực – mộng: ta không có cách nào chắc chắn mình đang tỉnh. Cách hiểu này hay được so với lập luận giấc mơ trong triết học phương Tây, và hợp với mạch hoài nghi của thiên. Cách hiểu thứ hai nhấn vào hai câu cuối thường bị bỏ quên: Chu với bướm tất có phân biệt, và đó gọi là vật hoá. Theo cách này, Trang Tử không xoá ranh giới giữa người và bướm, mà nói muôn vật chuyển hoá lẫn nhau, mỗi trạng thái có phân biệt nhưng không cố định mãi.
Đặt cạnh đoạn mở ta đánh mất ta, giấc mộng hồ điệp còn có thể đọc như một trải nghiệm buông bản ngã: lúc là bướm thì trọn vẹn là bướm, không vướng chuyện mình là Chu. Sự thoả chí của con bướm là hình ảnh của tiêu dao, nối với thiên đầu sách.
Trong thơ văn chữ Hán và chữ Nôm của người Việt, điển Trang Chu mộng bướm hay giấc hồ điệp thường được dùng để nói đời người như giấc mộng, phú quý phù du. Cách dùng ấy nghiêng về nghĩa thứ nhất và nhuốm màu ngậm ngùi, khác với giọng thong dong, hơi hài hước của nguyên văn.
Những cách hiểu lệch về Tề vật luận
Mọi thứ như nhau nên không cần phân biệt. Trang Tử chỉ ra sự phụ thuộc vào chỗ đứng của mọi phân biệt, nhưng chính ông viết Chu với bướm tất có phân biệt. Thiên này phản đối việc tuyệt đối hoá phân biệt, không phản đối việc phân biệt.
Trang Tử là người hoài nghi hoàn toàn. Thiên chứa nhiều lập luận hoài nghi, nhưng cũng nói đến cái minh và trục của Đạo như một thái độ tích cực. Nhiều học giả coi đây là hoài nghi có mục đích, nhằm giải phóng khỏi sự cố chấp hơn là phủ nhận mọi hiểu biết.
Giấc mộng hồ điệp là chuyện luân hồi. Đoạn văn nói vật hoá, chuyển hoá giữa các trạng thái, nhưng không có khái niệm nghiệp, tái sinh theo nghĩa Phật giáo vốn du nhập về sau. Đọc chồng các khái niệm này lên nhau là xoá mất nét riêng của mỗi truyền thống.
Thiên này dễ trích, dễ hiểu. Ngược lại, Tề vật luận có câu văn xoắn, nhiều đoạn chơi chữ, có chỗ các nhà chú giải ngắt câu khác nhau. Trích một câu đơn lẻ dễ đẩy nó đi xa ý gốc; tốt nhất nên đọc cả đoạn quanh câu ấy.
Câu hỏi thường gặp
Trang Chu mộng hồ điệp nằm ở đâu trong sách?
Đoạn này là đoạn kết của thiên Tề vật luận, thiên thứ hai trong bảy thiên nội của sách Trang Tử. Đoạn văn rất ngắn, kết bằng hai chữ vật hoá, và nên được đọc cùng phần thiên trước nó để thấy mạch lập luận về thị phi.
Tề vật luận có nghĩa là gì?
Tề là làm cho ngang bằng. Tên thiên có hai cách đọc: luận về sự ngang bằng của muôn vật, hoặc làm ngang bằng các luận thuyết. Cả hai đều hợp với nội dung, vì thiên vừa bàn về muôn vật vừa bàn về các cuộc tranh luận đúng sai.
Ngô táng ngã nghĩa là gì?
Đại ý là ta đã đánh mất cái ta. Câu này do Nam Quách Tử Kỳ nói ở đầu thiên Tề vật luận, chỉ trạng thái buông được bản ngã cố định. Đây là chìa khoá để đọc cả thiên, kể cả giấc mộng hồ điệp ở cuối.
Triêu tam mộ tứ có nguồn gốc từ đâu?
Thành ngữ này lấy từ chuyện người nuôi khỉ trong Tề vật luận: cho hạt dẻ sáng ba chiều bốn thì khỉ giận, sáng bốn chiều ba thì khỉ mừng. Trang Tử dùng nó để nói những tranh cãi chỉ vì khác cách sắp xếp, còn thực chất không đổi.
Tề vật luận có phải chủ nghĩa tương đối không?
Có yếu tố tương đối về nhận thức, vì thiên chỉ ra mọi phán đoán phụ thuộc chỗ đứng. Nhưng nó không cổ vũ thái độ cái gì cũng được. Trang Tử đề xuất cái minh, nhìn thấu cả hai phía, như một cách thoát khỏi cố chấp chứ không phải bỏ mọi giá trị.
Vì sao Tề vật luận được coi là thiên khó nhất?
Vì câu văn cô đọng, nhiều chỗ chơi chữ, lập luận đan xen nhiều tầng và có đoạn các nhà chú giải ngắt câu khác nhau. Đọc kèm bản có nguyên văn Hán Việt, chú giải và đọc chậm từng đoạn sẽ dễ hơn nhiều so với đọc liền một mạch.