Trong những năm bị an trí ở Bến Ngự (Huế), từ cuối năm 1925 đến khi mất năm 1940, Phan Bội Châu soạn một bản Chu Dịch bằng chữ quốc ngữ, gồm dịch nghĩa, giải thích và những đoạn bàn luận riêng; sách được in thành bộ sau khi ông mất. Đây là một trong những bản Kinh Dịch tiếng Việt đầu tiên do một nhà Nho lớn trực tiếp viết bằng chữ mới.
Thế kỷ XX ở Việt Nam là thời Kinh Dịch chuyển từ chữ Hán sang quốc ngữ, từ trường thi sang nhà sách. Bài này giới thiệu bản của Phan Bội Châu và đặt nó cạnh một số hướng dịch khác của thế kỷ ấy, theo cách mô tả: mỗi người dịch chọn khung nào, nhấn vào đâu, để bạn đọc tự nhận ra khi cầm một cuốn Kinh Dịch tiếng Việt.
Bối cảnh: từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ
Năm 1919, khoa thi Hội cuối cùng được tổ chức ở Huế, đánh dấu sự kết thúc của khoa cử Nho học. Chỉ trong một thế hệ, những người lớn lên với Tứ thư Ngũ kinh chứng kiến chữ quốc ngữ, báo chí, sách in hiện đại trở thành phương tiện chính của tri thức. Kinh điển Nho gia đứng trước hai nguy cơ: bị lãng quên, hoặc chỉ còn là đối tượng của một nhóm nhỏ biết chữ Hán.
Việc dịch kinh điển ra quốc ngữ vì vậy mang ý nghĩa giữ gìn. Các nhà Nho thế hệ cuối và những trí thức Tây học có vốn Hán học lần lượt dịch Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học, Trung dung, rồi tới Kinh Dịch, bộ khó nhất. Mỗi bản dịch là một lựa chọn: giữ lời chú truyền thống hay tự giải thích, dịch sát chữ hay diễn ý, giữ phần bói hay bỏ.
Kinh Dịch có thêm một khó khăn riêng: nó là văn bản nhiều tầng (vạch quẻ, lời quẻ, lời hào, truyện, chú giải đời sau), và người dịch phải quyết định dịch tầng nào, theo bản nào. Những quyết định ấy hiếm khi được nói rõ ở bìa sách, nhưng quyết định toàn bộ "giọng" của bản dịch mà người đọc tiếng Việt tiếp nhận.
Phan Bội Châu ở Huế: một nhà Nho đọc lại Dịch
Sau khi bị bắt ở Thượng Hải năm 1925, đưa về nước xét xử rồi được ân xá trước sức ép của dư luận, Phan Bội Châu bị đưa về sống ở Bến Ngự, Huế, dưới sự giám sát. Ông không còn hoạt động như trước, nhưng tiếp tục viết, tiếp khách, làm thơ. Trong những năm này, ông dành nhiều công sức cho Kinh Dịch, vốn là kinh điển ông đã học từ thời trẻ.
Bản Chu Dịch của ông đi theo cấu trúc quen thuộc: nguyên văn chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, giải thích theo các nhà chú giải, chủ yếu là Trình Di và Chu Hy. Điểm đặc biệt nằm ở các đoạn bàn luận riêng, theo những người đã giới thiệu bản này, thường đem ý quẻ gắn với chuyện tự lập, tự cường của con người và của cả cộng đồng, với tinh thần không cam chịu hoàn cảnh.
Cách đọc ấy không phải ý muốn "hiện đại hoá" Kinh Dịch một cách tuỳ tiện, mà nằm trong truyền thống nghĩa lý: Trình Di đã đọc Dịch như sách ứng xử theo thời, và Phan Bội Châu, một người cả đời suy nghĩ về thời thế, tiếp tục làm điều đó trong hoàn cảnh của mình. Với người nghiên cứu, bản này là tư liệu quý cho thấy một nhà Nho lớn của Việt Nam đọc Dịch như thế nào khi thời của Nho học đã khép lại.
Mấy hướng dịch Kinh Dịch ra tiếng Việt thế kỷ XX
Không thể liệt kê hết các bản dịch; bảng dưới đây chỉ mô tả vài hướng tiêu biểu qua những tên tuổi được nhắc nhiều, không nhằm xếp hạng hay so hơn kém:
| Người dịch, soạn | Hướng tiếp cận chính | Điểm người đọc nên biết |
|---|---|---|
| Phan Bội Châu | Dịch, giải theo Trình – Chu, thêm bàn luận gắn với tinh thần tự cường | Viết trong hoàn cảnh bị an trí, in thành sách sau khi ông mất |
| Ngô Tất Tố | Dịch kinh văn kèm lời chú của Chu Hy | Gần với khung Bản nghĩa, nghiêng về văn bản và nghĩa gốc |
| Nguyễn Hiến Lê | Chọn đọc Kinh Dịch như sách đạo lý, giản lược phần bói (sách Kinh Dịch – Đạo của người quân tử) | Viết lúc cuối đời, dành cho người đọc phổ thông có học |
| Kim Định | Đặt Kinh Dịch trong một lý thuyết văn hoá lớn về nguồn gốc Việt | Một quan điểm triết học – văn hoá, có nhiều tranh luận, không phải bản dịch kinh văn theo nghĩa hẹp |
Ngoài các tên trên còn nhiều bản dịch, bản giải thích khác, kể cả các sách nhập môn cho người đọc phổ thông. Khi đọc bất kỳ bản nào, câu hỏi nên đặt là: người dịch theo bản gốc nào, theo chú giải của ai, và chỗ nào là ý riêng của họ.
Dịch vài chữ then chốt: chỗ các bản tiếng Việt khác nhau
Một cách nhanh để thấy giọng của mỗi bản dịch là xem họ chuyển các chữ then chốt của lời quẻ, lời hào sang tiếng Việt thế nào. Bảng dưới nêu nghĩa thường gặp và chỗ hay có khác biệt:
| Chữ Hán Việt | Nghĩa thường gặp | Chỗ các bản dịch hay khác nhau |
|---|---|---|
| Nguyên, hanh, lợi, trinh | Lớn, thông suốt, có lợi, chính và bền | Dịch như bốn đức (theo Văn ngôn) hay như một lời đoán thuận lợi (theo cách Chu Hy phân tầng) |
| Trinh | Chính đáng và bền giữ | Có bản dịch "giữ chính", có bản "bền chí", có bản hiểu gần với "hỏi bói" theo nghĩa cổ của chữ |
| Vô cữu | Không lỗi | Có bản giữ nguyên chữ, có bản diễn là "không có gì đáng trách" |
| Hối, lận | Ăn năn; tiếc, khó khăn nhỏ | Có bản đọc như điềm, có bản đọc như trạng thái tâm lý của người hành động |
| Quân tử, đại nhân | Người có đức; người ở địa vị lớn | Có bản giữ nguyên, có bản diễn là "người tử tế", "người lãnh đạo" |
Không có lựa chọn nào tuyệt đối đúng; mỗi lựa chọn phản ánh khung chú giải người dịch theo. Khi một bản dịch thống nhất cách dịch các chữ này từ đầu đến cuối và giải thích lý do ở lời nói đầu, đó là dấu hiệu của sự cẩn trọng. Ngược lại, nếu cùng một chữ mà mỗi quẻ dịch một kiểu không giải thích, bạn nên đối chiếu thêm.
Thuyết "Kinh Dịch gốc Việt": một tranh luận cần biết
Từ giữa thế kỷ XX, một số tác giả, nổi bật là linh mục, triết gia Kim Định, đề xuất rằng nhiều yếu tố của Kinh Dịch và triết lý âm dương có gốc từ văn hoá của các cư dân phương Nam, trong đó có tổ tiên người Việt, chứ không hoàn toàn do người Hoa Hạ phương Bắc tạo ra. Lập luận dựa nhiều vào biểu tượng (trống đồng, cặp đôi âm dương trong tín ngưỡng nông nghiệp), huyền thoại và suy luận văn hoá học.
Thuyết này có sức hấp dẫn lớn với nhiều người đọc Việt, vì nó gắn Kinh Dịch với bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, giới sử học và khảo cổ học chưa có bằng chứng văn bản hay hiện vật đủ mạnh để xác nhận; các văn bản Dịch sớm nhất đều xuất hiện trong khu vực văn hoá Thương – Chu và Chiến Quốc. Nhiều nhà nghiên cứu coi đây là một giả thuyết văn hoá học gợi mở hơn là một kết luận lịch sử.
Cách đọc tỉnh táo là ghi nhận nó như một quan điểm có tranh luận: hiểu lập luận, biết chỗ nó dựa vào đâu, và biết những gì giới sử học phản biện. Không cần chế giễu người tin, cũng không cần khẳng định chắc chắn điều chưa chứng minh được.
Cách đọc một bản Kinh Dịch tiếng Việt cho đúng tầng
Dù bạn cầm bản nào, có thể tự kiểm theo vài bước sau để biết mình đang đọc gì:
- Tìm lời nói đầu: người dịch có nói theo bản gốc nào (bản đại toàn, Chu Dịch chiết trung, hay bản khác) không? Thiếu thông tin này là dấu hiệu nên đọc thận trọng.
- Xem cách trình bày: lời quẻ, lời hào, Thoán, Tượng, Văn ngôn có được tách bạch không, hay bị trộn vào một đoạn giải thích chung?
- Phân biệt lời chú với lời người dịch: một câu giải thích là của Trình Di, của Chu Hy, hay của chính người dịch? Bản tốt thường ghi rõ.
- Để ý phần bói: người dịch giữ, giản lược hay bỏ phần lời đoán? Lựa chọn này nói nhiều về mục đích của bản dịch.
- Đối chiếu một quẻ ở hai bản: chọn một quẻ bạn quan tâm, đọc ở hai bản dịch khác nhau. Chỗ khác nhau chính là chỗ cách hiểu đang tác động.
Năm bước này không đòi hỏi biết chữ Hán, chỉ cần đọc chậm và đặt câu hỏi. Với người dạy văn, sử hay viết nội dung văn hoá, đây là thói quen giúp tránh dẫn sai những câu "Kinh Dịch nói rằng" vốn thật ra là lời người dịch.
Từ ông đồ tới nhà sách: Kinh Dịch đổi chỗ đứng
Trong xã hội Nho học, Kinh Dịch thuộc về người đi học, đi thi; hiểu Dịch là dấu hiệu của sự uyên bác. Sang thế kỷ XX, khi khoa cử chấm dứt, Kinh Dịch rời trường thi để vào nhà sách, đến với nhiều loại người đọc hơn: người tìm triết lý sống, người quan tâm văn hoá, và cả người tìm sách bói.
Sự đổi chỗ ấy có hai mặt. Mặt tích cực là Kinh Dịch không bị lãng quên, mà đến với đông đảo người đọc qua tiếng mẹ đẻ. Mặt cần lưu ý là các tầng nghĩa dễ bị trộn lẫn: sách triết lý, sách bói, sách văn hoá cùng mang tên "Kinh Dịch" trên kệ, và người đọc không phải lúc nào cũng biết mình đang cầm loại nào.
Bản Chu Dịch của Phan Bội Châu và các bản dịch cùng thời là cầu nối giữa hai thế giới ấy. Đọc chúng hôm nay, bạn không chỉ học về Kinh Dịch, mà còn thấy một thế hệ trí thức Việt Nam đã cố gắng giữ và làm mới một di sản trong lúc mọi thứ xung quanh thay đổi.
Câu hỏi thường gặp
Bản Chu Dịch của Phan Bội Châu được viết khi nào?
Sách được soạn trong thời gian ông bị an trí ở Bến Ngự, Huế, tức từ cuối năm 1925 đến năm 1940. Năm hoàn thành chính xác và các lần in khác nhau tuỳ tư liệu; khi trích dẫn, bạn nên ghi rõ bản in mình đang dùng.
Phan Bội Châu theo chú giải của ai khi giải Kinh Dịch?
Theo những người đã giới thiệu bản này, phần giải thích chủ yếu dựa vào Trình Di và Chu Hy, đúng với khung học mà nho sĩ Việt được đào tạo. Phần riêng của ông nằm ở các đoạn bàn luận, đem ý quẻ gắn với tinh thần tự lập, tự cường.
Có nên đọc Kinh Dịch tiếng Việt mà không biết chữ Hán không?
Hoàn toàn có thể, miễn là bạn biết bản mình đọc theo khung chú giải nào và chỗ nào là ý người dịch. Đối chiếu hai bản dịch khác nhau ở cùng một quẻ là cách đơn giản để thấy giới hạn của mỗi bản.
Thuyết Kinh Dịch gốc Việt đã được chứng minh chưa?
Chưa. Đây là một quan điểm văn hoá học có sức gợi mở, nhưng giới sử học và khảo cổ học chưa có bằng chứng văn bản hay hiện vật đủ để xác nhận. Nên đọc nó như một giả thuyết có tranh luận và tìm hiểu cả lập luận lẫn phản biện.
Vì sao các bản dịch Kinh Dịch tiếng Việt lại khác nhau nhiều như vậy?
Vì Kinh Dịch có nhiều tầng văn bản và nhiều dòng chú giải. Người dịch chọn bản gốc khác nhau, theo nhà chú giải khác nhau, giữ hay bỏ phần bói, dịch sát hay diễn ý. Mỗi lựa chọn tạo ra một giọng riêng cho bản dịch.