HocThuyet.comHọc Thuyết
Dịch học qua các đời: người đọc Dịch

Dịch học Việt Nam thời Hán Nôm: Lê Quý Đôn, các bản diễn Nôm và cách tra tư liệu

Nho sĩ Việt đọc Kinh Dịch qua bộ đại toàn, diễn Nôm và viết khảo luận riêng. Bài giới thiệu những tên tuổi, văn bản tiêu biểu và cách tra tư liệu Dịch học Hán Nôm.

Reading room of an old library in Hanoi, rows of worn bound volumes with plain covers on wooden shelves, a researcher seen from behind turning pages, soft afternoon light

Dịch học Việt Nam thời Hán Nôm là toàn bộ việc học, chú giải, diễn Nôm và bàn luận về Kinh Dịch của nho sĩ Việt từ thời Lê đến thời Nguyễn, chủ yếu đi theo khung chú giải của Trình Di và Chu Hy. Tên tuổi hay được nhắc nhất là Lê Quý Đôn, với các ghi chép về lý – khí và một sách khảo luận về Dịch thường được ghi tên ông; bên cạnh là các bản diễn Nôm đầu thời Nguyễn như Chu Dịch quốc âm giải nghĩa.

Phần lớn tư liệu Dịch học Hán Nôm vẫn còn dạng sách chép tay hoặc bản in khắc gỗ, chưa được dịch hết. Bài này giới thiệu khung lịch sử, những văn bản tiêu biểu, và hướng dẫn cách tra cứu cho người muốn tự tìm hiểu, kèm những chỗ thông tin còn chưa chắc để bạn biết dè dặt.

Kinh Dịch đến với nho sĩ Việt qua con đường nào

Chữ Hán và kinh điển Nho gia có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, nhưng việc học Kinh Dịch như một môn có hệ thống gắn chặt với giáo dục và khoa cử. Đầu thế kỷ XV, thời thuộc Minh, các bộ sách đại toàn của nhà Minh, trong đó có phần Dịch, được đưa vào và phổ biến; từ thời Lê sơ, chúng trở thành sách học chuẩn.

Bộ Dịch trong các bộ đại toàn in chú của Trình Di và Chu Hy cạnh nhau, kèm ý kiến của nhiều nhà Tống – Nguyên. Hệ quả là nho sĩ Việt học Dịch qua lăng kính Tống nho; các dòng tượng số đời Hán hay chú giải của Vương Bật đến với họ chủ yếu qua những đoạn được Trình, Chu dẫn lại.

Trong thi cử, phần kinh nghĩa đòi người học nắm vững câu chữ và lời chú; Kinh Dịch là một trong các kinh được ra đề. Việc học thiên về thuộc lòng và giải thích theo chú chuẩn. Đó là lý do phần lớn tư liệu Dịch học Hán Nôm còn lại là sách giáo khoa, sách tóm lược, sách luyện văn kinh nghĩa, chứ không nhiều công trình lý thuyết độc lập. Muốn hiểu sâu hơn về khoa cử như một thiết chế, bạn nên tìm tài liệu chuyên về Nho học.

Một chi tiết đáng chú ý về mặt sách vở: trong một thời gian dài, kinh sách in khắc phần nhiều mua từ Trung Hoa. Đến thế kỷ XVIII, triều Lê trung hưng cho khắc ván in các bộ kinh ở trong nước để ban phát cho việc học. Từ đó, các bản Kinh Dịch khắc in tại Việt Nam trở thành một bộ phận của kho sách Hán Nôm, có khi khác bản Trung Hoa ở chữ khắc, cách trình bày và lời bạt.

Một tiếng nói khác thường: Hồ Quý Ly và sách Minh đạo

Trước khi khung Trình – Chu trở thành chuẩn mực tuyệt đối, đã có một tiếng nói thách thức nó. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, cuối thế kỷ XIV, Hồ Quý Ly soạn sách Minh đạo, trong đó phê phán các nhà Tống nho như Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy, cho rằng họ học rộng nhưng kém thực tế, chuyên nhặt nhạnh văn chương của người xưa.

Sách Minh đạo không còn, chúng ta chỉ biết nó qua lời sử thần ghi lại, mà sử thần thời Lê vốn có thái độ phê phán họ Hồ. Vì vậy không thể nói Hồ Quý Ly có một "Dịch học riêng". Nhưng chi tiết này nhắc rằng việc tiếp nhận Tống nho ở Việt Nam không phải không có tranh luận, và có lúc gắn với các toan tính chính trị của người cầm quyền.

Sau khi nhà Hồ mất và thời Lê sơ thiết lập khoa cử theo khung đại toàn, những tiếng nói như vậy hầu như vắng bóng trong Dịch học. Sự khác biệt của nho sĩ Việt về sau chủ yếu thể hiện ở cách diễn giải, chọn lọc và diễn Nôm, hơn là ở việc bác bỏ chú giải chuẩn.

Lê Quý Đôn: bách khoa thư và người đọc Dịch

Lê Quý Đôn (1726–1784) là nhà bác học tiêu biểu nhất thế kỷ XVIII, để lại khối trước tác đồ sộ về sử, địa, văn hoá, kinh học. Ở mảng kinh học, ông có Thư kinh diễn nghĩa giảng Kinh Thư; ở mảng Dịch, các thư mục Hán Nôm ghi một sách khảo luận về Kinh Dịch mang tên Dịch kinh phu thuyết gắn với tên ông. Do tình trạng văn bản, người tìm hiểu nên đọc các nghiên cứu văn bản học trước khi khẳng định chi tiết nội dung.

Một tư liệu khác dễ tiếp cận hơn là Vân đài loại ngữ, bộ sách ghi chép theo loại mục. Phần đầu sách là loại "Lý khí", bàn về trời đất, âm dương, khí, các thuyết vũ trụ luận mà Dịch học là nền tảng. Ở đây Lê Quý Đôn trích dẫn rất nhiều sách Trung Hoa, đôi khi kèm nhận xét riêng, cho thấy ông đọc rộng ngoài bộ đại toàn.

Điều đáng chú ý ở Lê Quý Đôn là tinh thần ghi chép và đối chiếu: ông thích so sánh các thuyết, nêu chỗ sách này nói khác sách kia, đôi khi đối chiếu với kiến thức thiên văn, địa lý mà ông có được. Với người nghiên cứu hôm nay, giá trị của ông nằm ở việc cho thấy một nho sĩ Việt thế kỷ XVIII hình dung vũ trụ ra sao, chứ không ở việc đưa ra một học thuyết Dịch hoàn toàn mới.

Diễn Nôm Kinh Dịch: đưa kinh điển về tiếng mẹ đẻ

Một hướng đóng góp đặc thù của Việt Nam là diễn Nôm, tức chuyển kinh điển chữ Hán sang chữ Nôm để đọc theo tiếng Việt. Với Kinh Dịch, văn bản hay được nhắc là Chu Dịch quốc âm giải nghĩa, theo các nhà nghiên cứu Hán Nôm là của Đặng Thái Phương, ra đời khoảng đầu thời Nguyễn. Đây là bản giải nghĩa Kinh Dịch bằng tiếng Việt viết chữ Nôm, có giá trị cả về Dịch học lẫn ngôn ngữ học lịch sử.

Ý nghĩa của diễn Nôm không chỉ là "dịch cho dễ hiểu". Khi chuyển một khái niệm như "trinh", "hối", "lận", "cát", "hung" sang tiếng Việt, người diễn phải chọn từ, và mỗi lựa chọn là một cách hiểu. Vì vậy các bản diễn Nôm là nguồn để biết người Việt xưa hiểu kinh văn ra sao, và cũng là kho từ vựng tiếng Việt cổ quý cho người nghiên cứu ngôn ngữ.

Bên cạnh bản lớn này, thư mục Hán Nôm còn ghi nhiều văn bản nhỏ: sách tóm tắt sáu mươi tư quẻ để học thuộc, bài ca vần vè về tên quẻ, các tập chép tay của thầy đồ. Phần lớn chưa được phiên âm, chú giải, và là mảnh đất còn nhiều việc cho người làm Hán Nôm.

Cách tự tra tư liệu Dịch học Hán Nôm

Nếu bạn là sinh viên, giáo viên hay người viết nội dung muốn đi từ "nghe nói" tới văn bản thật, có thể làm theo các bước sau:

  1. Bắt đầu từ thư mục: tra bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu (xuất bản đầu thập niên 1990) để biết văn bản nào tồn tại, mang tên gì, tác giả được ghi là ai, có bao nhiêu bản.
  2. Ghi ký hiệu kho: mỗi văn bản ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm có ký hiệu riêng, thường bắt đầu bằng các chữ cái như A, VHv, AB. Ký hiệu giúp phân biệt nhiều bản cùng tên.
  3. Phân biệt bản in và bản chép tay: bản in khắc gỗ thường có thông tin nơi khắc, năm khắc; bản chép tay có thể chép từ bản khác và thêm bớt. Đừng coi mọi bản cùng tên là một.
  4. Tìm nghiên cứu văn bản học trước khi trích: tra các bài trên tạp chí chuyên ngành Hán Nôm để biết văn bản đã được khảo cứu chưa, tác giả có bị nghi ngờ không.
  5. Đối chiếu với nguồn Trung Hoa: nhiều đoạn trong sách Dịch học Việt là trích từ bộ đại toàn; xác định đoạn nào trích, đoạn nào là ý riêng của người Việt.
  6. Ghi rõ nguồn khi dùng: khi viết lại, nêu tên văn bản, ký hiệu kho, và nói rõ bạn đọc qua bản gốc hay qua bản dịch của ai.

Quy trình này chậm, nhưng là cách duy nhất để tránh lặp lại những thông tin lan truyền thiếu kiểm chứng như tên sách sai, năm sai, hay gán tác giả cho người nổi tiếng.

Dịch học Hán Nôm để lại gì cho hôm nay

Nhìn tổng thể, Dịch học Việt Nam thời Hán Nôm không tạo ra một trường phái chú giải riêng có ảnh hưởng ra ngoài như các dòng ở Trung Hoa. Nhưng nó để lại ba thứ quý. Thứ nhất, bằng chứng về cách một nền văn hoá tiếp nhận và chọn lọc một kinh điển ngoại lai. Thứ hai, kho từ vựng và cách diễn đạt tiếng Việt cổ qua các bản diễn Nôm. Thứ ba, dấu ấn trong văn chương: nhiều điển cố, thành ngữ có gốc từ Dịch đi vào thơ văn Việt qua con đường học hành ấy.

Với người đọc phổ thông, biết lịch sử này giúp hiểu vì sao Kinh Dịch trong tâm thức người Việt thường gắn với hình ảnh ông đồ, chữ Hán, sự uyên bác, và vì sao nhiều câu "Dịch nói rằng" trong lời ăn tiếng nói lại mang giọng Trình – Chu.

Với người làm nghề văn hoá, đây là lời nhắc về sự khiêm tốn: còn rất nhiều văn bản chưa ai đọc kỹ. Thay vì lặp lại vài cái tên quen thuộc, mỗi văn bản được phiên dịch cẩn thận là một đóng góp thật cho hiểu biết về Dịch học ở Việt Nam.

Bước chuyển tiếp theo của câu chuyện diễn ra vào thế kỷ XX, khi chữ quốc ngữ thay chữ Hán và các bản dịch Kinh Dịch ra tiếng Việt hiện đại xuất hiện. Nhiều bản dịch ấy vẫn dựa trên bộ đại toàn, nên khung Trình – Chu tiếp tục sống trong sách tiếng Việt, chỉ đổi hình thức chữ viết. Hiểu thời Hán Nôm vì thế là bước đầu để đọc đúng các bản dịch hôm nay.

Câu hỏi thường gặp

Nho sĩ Việt Nam có viết chú giải Kinh Dịch riêng không?

Có những sách khảo luận, tóm lược và diễn Nôm do người Việt soạn, nhưng phần lớn vẫn đi theo khung Trình – Chu trong các bộ đại toàn. Rất ít văn bản đề xuất một hệ giải thích độc lập, và nhiều văn bản chưa được dịch, nghiên cứu đầy đủ.

Dịch kinh phu thuyết chắc chắn là của Lê Quý Đôn không?

Các thư mục Hán Nôm ghi văn bản này gắn với tên Lê Quý Đôn. Tuy vậy, với sách chép tay, việc xác định tác giả và mức độ nguyên vẹn cần dựa vào nghiên cứu văn bản học. Khi trích dẫn, bạn nên ghi rõ nguồn thư mục và ký hiệu kho đã dùng.

Chữ Nôm giúp gì cho việc hiểu Kinh Dịch?

Bản diễn Nôm cho biết người Việt xưa chọn từ nào để dịch các khái niệm như cát, hung, hối, lận, trinh. Mỗi lựa chọn phản ánh một cách hiểu. Ngoài ra, chúng là tư liệu quý cho việc nghiên cứu tiếng Việt cổ.

Người không biết chữ Hán có thể tìm hiểu Dịch học Hán Nôm không?

Có thể bắt đầu bằng các công trình nghiên cứu, thư mục đề yếu và những bản dịch đã công bố. Nhưng để đánh giá một văn bản cụ thể, cần sự giúp đỡ của người đọc được Hán Nôm. Nhiều thư viện, viện nghiên cứu có bộ phận hỗ trợ tra cứu.

Kinh Dịch có liên quan gì đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm?

Dân gian gắn Nguyễn Bỉnh Khiêm với tài tiên tri và nhiều câu sấm. Phần lớn các câu sấm này được ghi chép muộn và khó xác định nguồn gốc. Về học thuật, ông là nhà Nho uyên bác, thơ văn có nhiều ý từ Dịch và Lão – Trang, nhưng không để lại một bản chú Dịch đáng tin.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183