HocThuyet.comHọc Thuyết
Lịch sử vũ trụ luận phương Đông

Lý và khí trong vũ trụ luận Tống – Minh: từ Thái hư của Trương Tải đến Chu Hy

Trương Tải nói vạn vật là khí tụ tan, Chu Hy thêm lý làm gốc. Bài giải thích cặp lý – khí như vũ trụ luận, các cuộc tranh luận Minh – Thanh và dấu vết ở Việt Nam.

Close angle on a thin sheet of ice melting into water in a weathered stone basin in a quiet pagoda courtyard near Hanoi at dawn, faint vapor, cool grey jade tones

Trong vũ trụ luận Tống – Minh, khí là chất liệu tạo nên mọi vật, tụ lại thì thành hình, tan ra thì về Thái hư; lý là cái lẽ, cái khuôn khiến mỗi vật là chính nó. Trương Tải đời Bắc Tống đặt nền cho thuyết khí; anh em họ Trình nhấn mạnh lý; Chu Hy đời Nam Tống ghép hai thứ thành hệ thống lý – khí có ảnh hưởng lớn ở Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.

Bài này chỉ bàn phần vũ trụ luận của lý – khí: thế giới được tạo nên từ gì, vì sao vạn vật vừa giống vừa khác nhau. Phần đạo đức, tâm tính và vị trí của Tống Nho trong lịch sử Nho giáo thuộc một chủ đề khác. Các câu trích dưới đây là những câu được dẫn rộng rãi; câu nào không chắc nguyên văn được ghi "đại ý".

Vì sao Tống Nho cần một vũ trụ luận mới

Từ cuối Hán đến Đường, Phật giáo và Đạo giáo phát triển mạnh và đưa ra những lý giải tinh tế về thế giới: vạn pháp do duyên sinh, không có tự tính; hay vạn vật sinh ra từ cái không. Trong khi đó, vũ trụ luận Nho gia vẫn chủ yếu là khung âm dương ngũ hành và cảm ứng đời Hán, vốn đã bị Vương Sung và nhiều người phê phán.

Các nhà Nho đời Tống muốn chứng minh thế giới là thật, có trật tự, và trật tự ấy là nền tảng cho đạo đức con người. Để làm điều đó, họ cần một lý thuyết về bản chất của thế giới đủ sức đối thoại với triết học Phật giáo. Chu Đôn Di với Thái cực đồ thuyết và Thiệu Ung với tượng số mở đường; Trương Tải, anh em họ Trình và Chu Hy dựng nên hệ thống.

Vì vậy, khi đọc lý – khí, nên nhớ đó là câu trả lời trong một cuộc đối thoại. Nhiều khái niệm của Tống Nho được rèn qua việc vừa học hỏi vừa phản bác Phật – Lão, và chính Chu Hy cũng mượn không ít hình ảnh từ văn bản nhà Phật.

Khí trước đời Tống: một khái niệm đã đi đường dài

Khi Trương Tải dựng thuyết khí, ông không bắt đầu từ con số không. Thiên Tri bắc du của Trang Tử đã có câu, đại ý: sự sống của người là do khí tụ lại; tụ thì sống, tan thì chết; khắp thiên hạ chỉ là một khí mà thôi. Thiên Nội nghiệp trong Quản Tử bàn về tinh khí như phần tinh tuý nhất của khí làm nên sự sống và trí tuệ.

Đời Hán, Hoài Nam Tử kể trời đất hình thành từ khí phân thanh trọc, còn Vương Sung trong Luận hành dùng khái niệm nguyên khí để nói trời đất hợp khí thì vạn vật tự sinh. Đời Đường, Liễu Tông Nguyên khi bàn về trời cũng coi khoảng mênh mông giữa trời đất là nguyên khí.

Như vậy khí là một khái niệm chung của nhiều trường phái suốt hơn một nghìn năm. Điều mới ở Trương Tải là ông biến nó thành một bản thể luận chặt chẽ: không chỉ nói vật do khí tạo thành, mà khẳng định toàn bộ thực tại, kể cả khoảng trống, đều là khí, và dùng điều đó làm vũ khí lý luận chống lại học thuyết về cái không.

Trương Tải: Thái hư tức là khí

Trương Tải, hiệu Hoành Cừ, sống từ năm 1020 đến 1077. Tác phẩm chính là Chính mông, trong đó thiên Thái hoà mở đầu bằng những mệnh đề về khí. Câu nổi tiếng nhất: Thái hư không có hình, là bản thể của khí; khí tụ lại, tan ra chỉ là những hình thái tạm thời của biến hoá.

Ông dùng hình ảnh băng và nước: khí tụ hay tan trong Thái hư cũng như băng đông lại hay tan ra trong nước. Băng và nước khác hình nhưng cùng một chất. Từ đó ông kết luận không có cái "không" tuyệt đối. Khoảng trống mà mắt thấy là khí ở dạng tán, chưa tụ thành hình; vật thấy được là khí ở dạng tụ. Chết không phải là mất hẳn, mà là khí tan trở về Thái hư.

Trương Tải dùng lập luận này để phê phán cả hai phía. Với Đạo giáo, ông bác ý "có sinh từ không", vì nếu Thái hư là khí thì không có cái không nào để sinh ra cái có. Với Phật giáo, ông bác việc coi thế giới là huyễn, vì khí tụ tan là thật. Ông cũng nói khí là "một vật hai thể": trong khí luôn có hai mặt âm dương đối đãi, nên khí tự vận động mà không cần một lực từ bên ngoài.

Anh em họ Trình: đưa lý lên trung tâm

Trình Hạo và Trình Di, thường gọi là Nhị Trình, là học trò của Chu Đôn Di và có quan hệ họ hàng với Trương Tải. Họ đánh giá cao Trương Tải nhưng cho rằng chỉ nói khí là chưa đủ. Khí giải thích được vật làm bằng gì, nhưng chưa giải thích vì sao cây là cây, nước là nước, vì sao có trật tự. Cái làm nên trật tự ấy họ gọi là lý, hay thiên lý.

Trình Di, khi trả lời câu hỏi của học trò về bài Tây minh của Trương Tải, đã dùng công thức lý nhất phân thù: lý chỉ có một, nhưng biểu hiện ra thì mỗi nơi một khác. Trong lời tựa cuốn Dịch truyện, ông còn có câu thể và dụng cùng một nguồn, cái hiển và cái vi không có khoảng cách, đại ý nói lý ẩn và sự vật hiện ra là một mạch liền.

Với Nhị Trình, lý không phải một vật nằm đâu đó, mà là cái lẽ có mặt trong mọi vật. Hiểu một vật đến tận cùng là hiểu lý của nó, và vì lý là một, hiểu sâu đủ nhiều vật thì sẽ thông suốt. Ý này dẫn tới học thuyết cách vật trí tri, mà phần phương pháp học tập thuộc lịch sử Nho giáo nhiều hơn là vũ trụ luận.

Chu Hy: lý và khí không lìa nhau, nhưng lý là gốc

Hai thành phần của mọi vật. Trong thư trả lời Hoàng Đạo Phu, Chu Hy viết đại ý: giữa trời đất có lý, có khí. Lý là đạo ở trên hình, là gốc sinh ra vật; khí là cái khí cụ ở dưới hình, là đồ dùng để sinh ra vật. Vật nào cũng có đủ hai thứ: lý cho nó tính, khí cho nó hình.

Lý trước khí sau? Chu Hy nói trước khi có trời đất, rốt cuộc cũng chỉ có lý. Nhưng ở chỗ khác ông lại nói chưa từng có lý nào không có khí, chưa từng có khí nào không có lý. Ông giải thích "trước" ở đây là trước về logic, về gốc rễ, chứ không phải lý tồn tại một mình trong thời gian rồi mới sinh ra khí. Học trò hỏi đi hỏi lại điểm này nhiều lần, và các nhà nghiên cứu đến nay vẫn tranh luận.

Thái cực chỉ là lý. Chu Hy đọc Thái cực trong Thái cực đồ thuyết của Chu Đôn Di là tổng thể lý của trời đất vạn vật. Mỗi vật đều có đủ Thái cực trọn vẹn, chứ không phải chia nhau mỗi vật một phần.

Nguyệt ấn vạn xuyên. Để giải thích điều đó, ông dùng hình ảnh trăng in vạn dòng sông: trên trời chỉ có một vầng trăng, nhưng sông hồ nào cũng thấy trăng trọn vẹn. Hình ảnh này có tiền thân trong văn bản nhà Phật, một ví dụ cụ thể về việc Tống Nho học hỏi đối thủ của mình.

Tranh luận lý – khí sau Chu Hy

Hệ thống của Chu Hy trở thành chính thống trong thi cử từ đời Nguyên, nhưng phần vũ trụ luận của nó bị chất vấn liên tục. Bảng dưới gom các hướng phản biện chính.

Người, thờiQuan điểm về lý – khíĐiểm khác Chu Hy
La Khâm Thuận, đời MinhLý phải nhận ra ngay trên khí; lý là lý của khíKhông chấp nhận lý đứng trước, đứng trên khí
Vương Đình Tướng, đời MinhKhí là gốc, lý nằm trong khíQuay về gần Trương Tải
Vương Phu Chi, cuối Minh đầu ThanhLý nương vào khí; ngoài khí không có lý; phát triển sâu thuyết khí của Trương TảiPhê phán mạnh lý tiên khí hậu
Lý Hoàng, Lý Nhĩ ở Triều Tiên, thế kỷ XVITranh luận lý – khí phát động như thế nào trong tâmĐẩy cặp lý – khí sang tâm lý học đạo đức
Đới Chấn, đời ThanhLý là trật tự, mạch lạc của sự vật, không phải vật riêngPhê phán cách hiểu lý như một thực thể

Cuộc tranh luận Triều Tiên được xếp vào bảng để thấy tầm lan toả; nội dung chính của nó là tâm tính, không phải vũ trụ luận. Nhìn chung, dòng phản biện có xu hướng đưa khí trở lại vị trí trung tâm, và vì thế các sách lịch sử triết học thế kỷ XX hay gọi dòng này là "khí nhất nguyên luận".

Lý – khí ở Việt Nam và cách đọc hôm nay

Ở Việt Nam, Tống Nho theo con đường khoa cử trở thành nền học vấn của nho sĩ từ thời Lê, và cặp lý – khí đi vào ngôn ngữ thường ngày qua những chữ như lý lẽ, khí chất, khí tiết, hợp lý. Trong giới học giả, Lê Quý Đôn là người thường được nhắc tới: phần đầu bộ Vân đài loại ngữ bàn về lý khí, và nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đọc đó là quan điểm nghiêng về chỗ coi lý nằm trong khí, không tách rời khí. Đánh giá này còn tuỳ cách đọc từng đoạn, nên khi trích cần dẫn đúng văn bản.

Với người đọc hôm nay, điều quan trọng là không đồng nhất khí với một khái niệm khoa học như năng lượng, vật chất hay trường. Khí của Trương Tải là một khái niệm triết học dùng để nói về tính liên tục của thế giới; nó không có đơn vị đo, không có phương trình. Những lời quảng cáo "năng lượng khí" hay "trường khí" mượn từ cổ nhưng gán nghĩa mới, không phải là tư tưởng Tống Nho.

Tương tự, lý của Chu Hy không phải định luật khoa học, dù có điểm gần ở chỗ tìm trật tự trong sự vật. Lý vừa là trật tự tự nhiên vừa là chuẩn mực đạo đức, và chính sự gộp hai thứ ấy là đặc điểm, cũng là chỗ bị phê phán, của Tống Nho. Đọc lý – khí như lịch sử tư tưởng giúp thấy người xưa đã nghĩ sâu đến đâu về bản chất thế giới, mà không cần gán cho họ những phát hiện của thế kỷ XX.

Câu hỏi thường gặp

Lý và khí khác nhau thế nào?

Theo cách hiểu phổ biến của Chu Hy, khí là chất liệu tạo nên hình thể của vật, còn lý là cái lẽ, cái khuôn khiến vật là chính nó. Một cái ghế làm bằng gỗ là khí, còn cái lẽ khiến nó là ghế để ngồi là lý. Hai thứ không lìa nhau trong vật cụ thể.

Thái hư của Trương Tải có phải là chân không không?

Không. Thái hư là khí ở trạng thái tán, chưa tụ thành hình, nên không phải là khoảng trống tuyệt đối. Trương Tải dùng khái niệm này để bác bỏ ý tưởng có cái không thuần tuý. Nó là khái niệm triết học, không tương đương chân không trong vật lý hiện đại.

Lý nhất phân thù nghĩa là gì?

Lý nhất phân thù nghĩa là lý chỉ có một nhưng biểu hiện thì khác nhau ở từng nơi. Trình Di dùng công thức này khi bàn bài Tây minh của Trương Tải, và Chu Hy phát triển nó thành nền tảng giải thích vì sao vạn vật vừa cùng một gốc vừa mỗi vật một vẻ.

Chu Hy có mượn tư tưởng Phật giáo không?

Có những điểm vay mượn hình ảnh và cách lập luận, ví dụ hình ảnh trăng in vạn dòng sông có tiền thân trong văn bản nhà Phật. Tuy vậy, Chu Hy vẫn phê phán Phật giáo ở chỗ coi thế giới là không thật. Quan hệ giữa Tống Nho và Phật học là đề tài nghiên cứu lớn, nhiều quan điểm.

Khí trong triết học có phải là khí công không?

Không. Khí trong vũ trụ luận Tống Nho là chất liệu chung của vạn vật, một khái niệm triết học. Khí công là các phương pháp luyện tập thân thể hình thành theo những con đường khác. Việc gắn hai thứ làm một, rồi gán công dụng chữa bệnh, là cách dùng hiện đại không có cơ sở trong văn bản Tống Nho.

Nên đọc gì để tìm hiểu thêm về lý khí?

Có thể bắt đầu từ các chương về Tống Minh lý học trong những bộ lịch sử triết học Trung Quốc đã có bản tiếng Việt, rồi đọc tuyển dịch Chính mông, Chu Tử ngữ loại có nguyên văn đối chiếu. Với phần Việt Nam, các nghiên cứu về tư tưởng Lê Quý Đôn là điểm khởi đầu tốt.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183