Vương Sung (khoảng năm 27 đến cuối thế kỷ I) là nhà tư tưởng đời Đông Hán, tác giả Luận hành, bộ sách dùng quan sát và lập luận để bác bỏ hàng loạt niềm tin đương thời: trời phạt người bằng sấm sét, thiên tai là lời răn của trời, người chết thành ma có tri giác. Ông tự tóm mục đích cả bộ sách trong một câu: ghét điều hư vọng.
Trong lịch sử vũ trụ luận phương Đông, Vương Sung là đối trọng rõ nhất với thuyết thiên nhân cảm ứng của Đổng Trọng Thư và làn sóng sấm vĩ. Bài này giới thiệu con người ông, phương pháp, các lập luận tiêu biểu, và cả những giới hạn mà người đọc công bằng cần thấy.
Người đọc sách ở chợ Lạc Dương
Hậu Hán thư chép Vương Sung người Thượng Ngu, quận Cối Kê, mồ côi cha từ nhỏ. Ông lên kinh đô học ở Thái học, theo học Ban Bưu, cha của sử gia Ban Cố. Nhà nghèo không có sách, ông thường dạo các hiệu sách ở chợ Lạc Dương đọc sách bày bán, đọc qua một lần là nhớ, nhờ thế thông hiểu nhiều nhà.
Ông làm quan nhỏ ở địa phương, nhiều lần can gián không được nghe, rồi về nhà đóng cửa viết sách. Luận hành theo truyền thống có tám mươi lăm thiên, trong đó một thiên chỉ còn tên, nên bản truyền lại có tám mươi tư thiên. Ông còn viết một thiên tự thuật ở cuối sách, kể về gia thế, tính tình và lý do viết sách.
Sách không nổi tiếng ngay. Tương truyền về sau có danh sĩ cuối Đông Hán đến vùng Ngô – Việt mới tìm được sách, giữ làm của riêng để dùng trong đàm luận. Chuyện có thể đã được tô vẽ, nhưng phản ánh thực tế là Luận hành lưu truyền chậm và lâu ngày mới được đánh giá cao.
Cần đặt Vương Sung vào đúng bối cảnh để thấy sự can đảm của ông. Ông lớn lên khi Quang Vũ Đế vừa tuyên bố đồ sấm ra thiên hạ, và viết sách trong những thập niên triều đình Đông Hán dùng sấm vĩ, tai dị làm một phần của học thuật chính thống; hội nghị Bạch Hổ quán năm 79 diễn ra khi ông đang ở tuổi trung niên. Nói rằng thiên tai không phải lời răn, điềm lạ không phải ý trời, nghĩa là đi ngược dòng chính của tư tưởng nhà nước đương thời, trong khi bản thân ông chỉ là một viên quan nhỏ ở địa phương.
Phương pháp: lấy hiệu nghiệm làm thước đo
Tật hư vọng. Trong thiên Dật văn, Vương Sung viết đại ý: Luận hành có hàng chục thiên, nhưng gom lại chỉ một câu, là ghét điều hư vọng. Hư là không có thật, vọng là sai lạc. Đối tượng của ông là những lời đồn, những thuyết được lặp lại vì danh tiếng của người nói chứ không vì có bằng chứng.
Hiệu nghiệm. Thước đo ông dùng là hiệu nghiệm: một lời nói có đúng hay không phải được kiểm bằng sự việc. Ông thường đặt một thuyết phổ biến, rút ra hệ quả của nó, rồi so với điều mắt thấy tai nghe. Nếu hệ quả trái với quan sát thì thuyết ấy sai.
Không nể kinh điển. Ông viết cả những thiên mang tên Vấn Khổng và Thích Mạnh, chỉ ra chỗ mâu thuẫn trong lời của Khổng Tử, Mạnh Tử như sách chép. Với thời ấy, đây là thái độ rất táo bạo, và là lý do nhiều nho sĩ đời sau coi ông là kẻ ngông.
Dùng chính khung khí. Điểm đáng chú ý là Vương Sung không bỏ khái niệm khí, âm dương. Ông dùng chính khung khí để bác thuyết cảm ứng: trời đất là khí vận hành tự nhiên, không có ý chí để thưởng phạt. Ông phản biện từ bên trong hệ thống, chứ không đứng từ một hệ thống khác.
Sấm sét không phải trời phạt: thiên Lôi hư
Thời Hán, người ta tin người bị sét đánh chết là do có tội ngầm, trời sai thần sấm trừng phạt. Trong thiên Lôi hư, Vương Sung bác bỏ điều này. Ông cho rằng sấm sét là khí lửa sinh ra khi khí dương cực thịnh của mùa hạ va chạm với khí âm, chứ không phải tiếng giận của trời.
Ông dẫn nhiều quan sát: người bị sét đánh có tóc cháy, da sém, xác có mùi khét như bị lửa đốt. Những dấu vết ấy là của lửa, nên sét là lửa. Ông còn hỏi ngược lại: nếu sét là trời phạt kẻ có tội, sao có người tốt bị sét đánh, có kẻ ác sống yên, và sao trâu bò, cây cối vô tội cũng bị đánh.
Ông cũng chế giễu hình ảnh thần sấm trong tranh vẽ dân gian, một nhân vật đánh chuỗi trống: nếu thần có hình thể như vậy thì phải ở đâu đó trên trời, mà người ta không ai thấy. Đọc thiên này, người hiện đại thấy cách lập luận của ông chưa có điện học, nhưng phương pháp đi từ dấu vết vật chất để suy ra nguyên nhân là phương pháp đúng.
Người chết không thành ma: thiên Luận tử
Thiên Luận tử là một trong những thiên nổi tiếng nhất. Vương Sung lập luận: người sống được là nhờ tinh khí; chết thì tinh khí tan mất, huyết mạch khô kiệt, hình thể mục rã thành tro đất, lấy gì mà thành ma. Ông dùng phép so sánh với lửa: trong thiên hạ không có lửa nào tự cháy mà không cần củi, thì trên đời làm sao có tinh thần tự biết mà không cần thân thể.
Ông còn đưa ra một lập luận theo kiểu đếm: từ khi có trời đất, số người đã chết nhiều hơn số người đang sống gấp bội; nếu người chết đều thành ma thì ma phải đầy đường, mỗi bước chân đều gặp, chứ không phải chỉ thỉnh thoảng có người nói thấy ma. Còn chuyện thấy ma, ông giải thích bằng bệnh tật, sợ hãi, tưởng tượng của người sống.
Thiên này dễ bị đọc như lời chống lại việc thờ cúng tổ tiên. Thực ra Vương Sung phê phán các thuyết về ma quỷ có tri giác, có thể hại người, và các nghi lễ trừ ma tốn kém. Bản thân việc tưởng nhớ người đã khuất, giữ lễ với tổ tiên như một nét văn hoá là chuyện khác, và mỗi gia đình vẫn giữ theo niềm tin riêng.
Trời tự nhiên, vô vi: phản bác thiên khiển cáo
Trong các thiên Tự nhiên và Khiển cáo, Vương Sung tấn công trực tiếp thuyết tai dị của Đổng Trọng Thư. Ông viết đại ý: trời đất hợp khí thì vạn vật tự sinh ra, cũng như vợ chồng hợp khí thì con tự sinh ra. Trời không có ý muốn sinh ra vật nào để nuôi người, cũng như cha mẹ không cố ý sinh ra một đứa con cụ thể.
Ông dựa vào chữ vô vi của Lão Tử để nói trời không làm gì có chủ đích. Nếu trời có ý răn đe, thì khi vua sai, trời phải trực tiếp nói ra hoặc sửa ngay, chứ không cần dùng những tín hiệu mơ hồ như hạn hán, nhật thực mà người ta phải đoán nghĩa. Ở thiên Hàn ôn, ông bác luôn quan niệm vua vui thì trời ấm, vua giận thì trời lạnh: nóng lạnh là theo mùa, không theo tâm trạng người cầm quyền.
Theo Vương Sung, chính việc gán thiên tai cho lỗi của vua là một kiểu hư vọng: nó làm người ta không lo việc thật như trị thuỷ, cứu đói, mà mải đoán ý trời. Lập luận này giải thích vì sao các sách lịch sử triết học thế kỷ XX ở Trung Quốc và Việt Nam thường xếp ông vào dòng tư tưởng duy vật, vô thần thời cổ.
Phê phán chọn ngày, bói toán và kiêng kỵ thường ngày
Ngoài các đề tài lớn về trời và ma, Luận hành còn có nhiều thiên nhắm vào tục lệ thường ngày của người đời Hán, như các thiên Kế nhật, Bốc phệ, Biện suý, Tứ huý. Đối tượng là những sách chọn ngày, những thầy bói và các điều kiêng kỵ lưu hành trong dân gian lẫn quan trường.
Cách ông làm vẫn là tìm chỗ mâu thuẫn. Ví dụ trong thiên Kế nhật, đại ý ông hỏi: sách chọn ngày định ngày nên gội đầu, ngày không nên gội, vậy sao rửa tay, rửa chân lại chẳng cần kiêng ngày nào, trong khi đều là bỏ bụi bẩn khỏi thân thể. Nếu ngày có sức chi phối việc gội đầu thì cũng phải chi phối những việc tương tự. Một quy tắc không áp dụng nhất quán cho các trường hợp giống nhau thì khó coi là quy luật.
Với bói toán, ông lập luận rằng mai rùa, cỏ thi không thể "hỏi" được trời đất, vì trời không có tai để nghe câu hỏi, không có miệng để trả lời. Ông giải thích việc bói có lúc đúng là do trùng hợp hoặc do người bói khéo diễn giải. Các thiên này là tư liệu quý về đời sống tín ngưỡng thời Hán, vì muốn bác điều gì thì ông phải chép lại khá kỹ điều ấy.
Những chỗ Vương Sung chưa thoát ra được
Đọc công bằng, cần thấy Vương Sung cũng là người của thời mình. Bảng dưới liệt kê những điểm mà nhà nghiên cứu thường chỉ ra như giới hạn.
| Vấn đề | Quan điểm của Vương Sung | Nhận xét |
|---|---|---|
| Mệnh | Tin con người có mệnh định sẵn từ lúc thụ khí, giàu nghèo, sang hèn, thọ yểu đã định | Thay một kiểu định mệnh bằng một kiểu khác; bác trời có ý chí nhưng giữ số mệnh |
| Cốt tướng | Cho rằng hình dạng xương cốt phản ánh mệnh | Phần này mâu thuẫn với tinh thần hiệu nghiệm của chính ông |
| Điềm lành nhà Hán | Trong các thiên ca ngợi nhà Hán, ông vẫn kể điềm lành như dấu hiệu thịnh trị | Có thể do áp lực chính trị hoặc do chưa nhất quán |
| Kiến thức tự nhiên | Giải thích sấm sét, mưa, nhật thực bằng khí và quan sát thô | Đúng hướng về phương pháp, nhiều chi tiết sai theo khoa học hiện đại |
Những giới hạn này không làm giảm giá trị của Luận hành; chúng nhắc rằng tinh thần hoài nghi cũng phát triển từng bước, không ai thoát ra khỏi thời đại của mình một lần là xong.
Câu hỏi thường gặp
Luận hành nghĩa là gì?
Hành là cái cân. Luận hành có thể hiểu là những bài luận dùng để cân nhắc, đánh giá đúng sai của các lời nói, thuyết lưu hành. Tên sách phản ánh đúng mục đích của Vương Sung là đặt các thuyết lên bàn cân của bằng chứng.
Vương Sung có phải là người vô thần không?
Các sách triết học thế kỷ XX hay xếp ông vào dòng duy vật vô thần, nhưng nên dùng nhãn này thận trọng. Ông bác trời có ý chí và ma quỷ có tri giác, nhưng vẫn tin mệnh và một số điềm lành. Chính xác hơn, ông là nhà tư tưởng theo chủ nghĩa tự nhiên, phê phán mê tín bằng khái niệm khí.
Vương Sung có chống lại Nho giáo không?
Không hẳn. Ông học ở Thái học, theo thầy Nho, và nhiều thiên vẫn dùng chuẩn mực Nho gia. Thứ ông chống là các lời đồn, thuyết thần bí được khoác danh nghĩa Nho, như sấm vĩ, tai dị. Ông cũng dám chất vấn Khổng Tử, Mạnh Tử, nhưng là để đòi lời nói phải nhất quán.
Lập luận ma phải đầy đường của Vương Sung có chặt chẽ không?
Đó là lập luận rút ra hệ quả rồi so với quan sát, khá mạnh với giả định ma là người chết có hình thể, tri giác. Người tin có thể phản bác rằng ma không tồn tại theo cách ấy. Giá trị của lập luận nằm ở phương pháp buộc một niềm tin phải chịu trách nhiệm về hệ quả của nó.
Có bản dịch Luận hành tiếng Việt không?
Đã có các bản dịch và tuyển dịch Luận hành sang tiếng Việt, cùng nhiều chương giới thiệu trong sách lịch sử triết học Trung Quốc. Do sách dài và nhiều thiên khó, nên đọc kèm phần chú thích và đối chiếu nguyên văn khi trích dẫn cho bài nghiên cứu.
Tư tưởng Vương Sung còn ý nghĩa gì hôm nay?
Phương pháp của ông, đòi lời nói phải có hiệu nghiệm, rút hệ quả của một niềm tin rồi so với thực tế, vẫn là công cụ tốt để đọc các lời quảng cáo nhân danh âm dương ngũ hành hay điềm báo. Đồng thời, giới hạn của ông nhắc rằng người hoài nghi cũng cần tự kiểm tra chính mình.