Liên Sơn và Quy Tàng là tên hai bộ sách bói bằng quẻ được sách cổ xếp ngang hàng với Chu Dịch, gọi chung là "Tam Dịch". Theo truyền thống, Liên Sơn thuộc nhà Hạ, Quy Tàng thuộc nhà Thương, Chu Dịch thuộc nhà Chu. Hai bộ đầu đã thất truyền từ lâu; thứ mà ngày nay ta gọi là Kinh Dịch chính là Chu Dịch cộng với phần truyện giải thích đời sau.
Suốt hai nghìn năm, hiểu biết về Liên Sơn và Quy Tàng chỉ dựa vào vài dòng trong Chu lễ và những câu trích rời rạc. Năm 1993, thẻ tre trong một ngôi mộ đời Tần ở Vương Gia Đài (Hồ Bắc) cho thấy một văn bản bói quẻ mà nhiều học giả nhận là Quy Tàng hoặc rất gần Quy Tàng. Bài này đi qua những gì sách cũ nói, những gì khảo cổ thêm vào, và chỗ nào vẫn còn là câu hỏi mở.
Chu lễ chép gì về "ba phép Dịch"
Nguồn sớm và hay được dẫn nhất là thiên Xuân quan trong sách Chu lễ, đoạn nói về chức quan Thái bốc (quan đứng đầu việc bói). Đại ý đoạn ấy: Thái bốc nắm phép của ba bộ Dịch, một là Liên Sơn, hai là Quy Tàng, ba là Chu Dịch; quẻ gốc của cả ba đều là tám, quẻ ghép đều là sáu mươi tư. Câu này quan trọng vì nó cho biết người soạn Chu lễ hình dung ba bộ sách cùng dùng một hệ ký hiệu tám quẻ đơn, sáu mươi tư quẻ kép, chỉ khác nhau ở cách sắp xếp và lời giải.
Cần nhớ Chu lễ là sách mô tả một bộ máy quan chế lý tưởng của nhà Chu, được biên soạn muộn hơn thời Tây Chu rất nhiều; giới nghiên cứu phần đông đặt thời điểm thành sách vào khoảng Chiến Quốc đến đầu Hán, và có người còn nghi muộn hơn. Vì vậy, đoạn "ba phép Dịch" là chứng cứ cho việc người cuối Chiến Quốc tin rằng từng có ba bộ Dịch, chứ chưa phải bằng chứng trực tiếp rằng nhà Hạ đã có một bộ sách tên Liên Sơn.
Điểm này giúp đọc đúng mọi câu khẳng định kiểu "Liên Sơn có từ bốn nghìn năm trước". Câu đó chỉ là ghép truyền thống vào niên đại các triều đại, chưa có văn bản hay hiện vật đời Hạ nào xác nhận.
Tên gọi và quẻ mở đầu: cách giải thích truyền thống
Từ thời Hán trở đi, các nhà chú giải cố giải thích vì sao ba bộ sách mang ba cái tên khác nhau. Cách giải thích được lặp lại nhiều nhất là gắn tên sách với quẻ đứng đầu:
| Bộ Dịch | Triều đại theo truyền thống | Quẻ đứng đầu theo cách giải thích quen thuộc | Ý được gán cho tên gọi |
|---|---|---|---|
| Liên Sơn | Hạ | Cấn (núi) | Núi nối núi, mây từ núi ra không dứt |
| Quy Tàng | Thương (Ân) | Khôn (đất) | Muôn vật đều trở về, cất giữ trong đất |
| Chu Dịch | Chu | Càn (trời) | "Chu" là tên triều đại, cũng có thuyết hiểu là "khắp, vòng quanh" |
Bảng trên là cách hiểu của các nhà chú giải, không phải điều đã được chứng minh. Ngay chữ "Chu" trong Chu Dịch cũng có hai luồng: đa số hiểu là tên nhà Chu, một số người (trong đó có Trịnh Huyền đời Đông Hán theo các bản dẫn lại) hiểu theo nghĩa "khắp cả". Cũng có thuyết gán Liên Sơn, Quy Tàng cho các vị vua huyền thoại thay vì nhà Hạ, nhà Thương. Khi đọc sách phổ thông viết chắc nịch "Liên Sơn bắt đầu bằng quẻ Cấn", bạn nên hiểu đó là thuyết truyền thống.
Hai bộ sách mất đi như thế nào
Thư mục chính thức đầu tiên còn lại của Trung Hoa là thiên Nghệ văn chí trong Hán thư. Phần lớn các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng ở đó Dịch học đã xoay quanh Chu Dịch và các trường phái giảng Chu Dịch; Liên Sơn và Quy Tàng không giữ vị trí kinh điển. Nghĩa là ngay từ đời Hán, hai bộ này đã thuộc loại "nghe nói có" nhiều hơn là sách được học.
Các thư mục đời sau có lúc ghi một bản Quy Tàng vài quyển, kèm lời nghi ngờ rằng đó là bản người sau chép lại hoặc làm giả, rồi bản ấy cũng mất. Từ đời Tống trở đi, người ta chủ yếu biết Quy Tàng qua những câu được các sách khác trích dẫn. Đời Thanh, phong trào tập dật (gom lại các đoạn văn bị thất lạc từ sách khác) đã gom các câu trích ấy thành những tập nhỏ; giá trị của chúng phụ thuộc vào độ tin cậy của từng sách dẫn.
Liên Sơn còn mờ hơn: số câu trích ít, nhiều câu có dấu hiệu là văn muộn. Vì thế mọi khẳng định cụ thể về nội dung Liên Sơn hiện nay đều nên đọc với dấu hỏi lớn. Sự thất truyền này không có gì bí ẩn: một văn bản không được đưa vào chương trình học chính thức, không có trường phái truyền thụ, thì qua vài lần loạn lạc và đổi chữ viết sẽ rơi rụng dần.
Thẻ tre Vương Gia Đài: một bản Quy Tàng hiện ra từ mộ Tần
Năm 1993, khi khai quật nhóm mộ ở Vương Gia Đài thuộc khu vực Giang Lăng (nay là Kinh Châu, tỉnh Hồ Bắc), các nhà khảo cổ tìm thấy trong mộ số 15, niên đại thời Tần, một lô thẻ tre có nội dung bói bằng quẻ. Mỗi mục gồm hình quẻ sáu vạch, tên quẻ và một đoạn lời. Điều khiến giới học thuật chú ý là nhiều câu trong lô thẻ khớp hoặc gần khớp với những câu mà sách đời sau trích dưới tên Quy Tàng.
Một đặc điểm hay được nêu: nhiều mục được viết theo dạng kể lại một lần bói của nhân vật thời xưa, rồi kèm lời đoán, khác hẳn kiểu lời quẻ ngắn gọn, tượng trưng của Chu Dịch. Tên một số quẻ cũng khác tên quen thuộc trong Chu Dịch, dù hình vạch cho phép đối chiếu.
Từ đây hình thành hai hướng nhận định. Một hướng cho rằng đây chính là Quy Tàng, hay ít nhất là một truyền bản của nó lưu hành thời Chiến Quốc – Tần. Hướng thận trọng hơn chỉ gọi đây là một văn bản bói quẻ cùng hệ với Quy Tàng được trích, vì không có tiêu đề nào ghi rõ tên sách. Dù theo hướng nào, phát hiện này xác nhận một điều quan trọng: thời Chiến Quốc không chỉ có một bộ lời quẻ duy nhất, và Chu Dịch là một trong nhiều văn bản dùng chung hệ sáu mươi tư quẻ.
Trước khi có tên quẻ: giả thuyết "quẻ số"
Câu hỏi sâu hơn là: trước cả Liên Sơn, Quy Tàng, Chu Dịch, các quẻ đã được ghi như thế nào? Trên một số đồ đồng, mai rùa và xương thú từ cuối Thương đến Tây Chu, người ta thấy những nhóm ba hoặc sáu con số xếp chồng, như một, năm, sáu, bảy, tám. Cuối thập niên 1970, nhà cổ văn tự học Trương Chính Lãng đề xuất cách đọc các nhóm số này như ghi chép kết quả bói, tức là tiền thân của quẻ; giới nghiên cứu gọi chúng là "quẻ số" (số tự quái).
Theo giả thuyết này, ban đầu người bói ghi thẳng con số thu được, về sau các số lẻ được quy về vạch liền (dương), số chẵn về vạch đứt (âm), và hình vạch quen thuộc mới thành hình. Giả thuyết được chấp nhận rộng rãi ở nét chính, nhưng chi tiết như mối quan hệ chính xác giữa từng con số với vạch, hay thời điểm vạch đứt định hình, vẫn còn bàn.
Điều này đặt câu chuyện Tam Dịch vào đúng chỗ: trước khi có ba bộ sách với ba hệ lời, đã có một thực hành bói bằng số kéo dài nhiều thế kỷ. Các bộ "Dịch" là những lần hệ thống hoá thực hành ấy thành văn bản.
Những ngộ nhận hay gặp khi nói về Tam Dịch
Ngộ nhận: Liên Sơn, Quy Tàng là "Kinh Dịch thất truyền" bí mật, mạnh hơn Chu Dịch. Không có tư liệu nào cho thấy chúng "sâu" hơn. Những gì còn lại của Quy Tàng cho thấy một văn bản bói thực dụng, kể tích xưa để làm ví dụ, chứ không có hệ triết lý như phần truyện của Kinh Dịch.
Ngộ nhận: thứ tự Tiên thiên – Hậu thiên chính là thứ tự của Liên Sơn, Quy Tàng. Sơ đồ bát quái Tiên thiên được dựng thành hình vẽ từ đời Tống; gán nó cho một bộ Dịch đời Hạ là suy diễn của người sau, không dựa trên văn bản.
Ngộ nhận: Vương Gia Đài đã "giải mã" xong Quy Tàng. Lô thẻ có nhiều chỗ đứt, chữ mờ, và việc nó có đúng là Quy Tàng hay không vẫn là câu hỏi. Các bản đọc khác nhau ở không ít chữ.
Ngộ nhận: Tam Dịch chứng minh Kinh Dịch có từ thời Phục Hy. Chu lễ chỉ cho biết niềm tin của người cuối Chiến Quốc. Niên đại các bộ Dịch được tính bằng văn bản và hiện vật, mà hiện vật sớm nhất có hình quẻ là các nhóm "quẻ số" thời Thương – Chu.
Đọc chuyện Tam Dịch như thế nào cho có ích
Với người học lịch sử tư tưởng, câu chuyện Liên Sơn – Quy Tàng là một bài học về cách một truyền thống tự kể về mình. Người đời sau cần một phả hệ đẹp: ba triều đại, ba bộ Dịch, ba quẻ mở đầu ứng với núi, đất, trời. Khảo cổ thì cho thấy một bức tranh lộn xộn và thú vị hơn: nhiều văn bản bói song song, nhiều cách đặt tên quẻ, và một bộ Chu Dịch được chọn làm kinh điển nhờ phần truyện triết lý đi kèm.
Khi gặp một khẳng định về Tam Dịch, bạn có thể tự hỏi ba câu: câu này lấy từ Chu lễ, từ lời chú đời sau, hay từ thẻ tre khai quật? Nếu là lời chú, ai chú và vào đời nào? Nếu là thẻ tre, đã có bản công bố chính thức và các bản đọc khác nhau chưa? Ba câu hỏi ấy đủ để tách lớp truyền thuyết khỏi lớp sử liệu.
Câu chuyện còn để ngỏ. Mỗi lô thẻ tre mới được công bố đều có thể thay đổi một mảnh hiểu biết, và chính sự mở ngỏ ấy là lý do Dịch học vẫn là một lĩnh vực học thuật sống, không chỉ là di sản đóng khung.
Câu hỏi thường gặp
Liên Sơn và Quy Tàng có dùng 64 quẻ giống Chu Dịch không?
Theo đoạn Thái bốc trong Chu lễ, cả ba bộ đều có tám quẻ gốc và sáu mươi tư quẻ ghép. Thẻ tre Vương Gia Đài cũng dùng quẻ sáu vạch. Khác biệt nằm ở tên quẻ, thứ tự và lời giải, không phải ở hệ ký hiệu.
Có bản dịch tiếng Việt của Quy Tàng không?
Các sách tiếng Việt thường chỉ giới thiệu Quy Tàng qua vài câu trích. Lô thẻ Vương Gia Đài chủ yếu được nghiên cứu trong giới cổ văn tự học Trung Quốc; người đọc tiếng Việt muốn tìm hiểu nên tra các bài khảo cứu học thuật thay vì sách phổ thông.
Vì sao Chu Dịch còn lại mà hai bộ kia mất?
Chu Dịch được kèm phần truyện mang tính triết lý, được Nho gia đời Hán đưa vào hàng kinh điển và có các trường phái truyền dạy chính thức. Văn bản không có chỗ đứng trong việc học chính thống thì dễ rơi rụng qua các lần loạn lạc và đổi chữ viết.
Chữ "Dịch" trong tên ba bộ sách nghĩa là gì?
Cách giải thích phổ biến nhất là "đổi thay". Hệ từ truyện và các nhà chú giải đời sau phát triển thêm thành ba nghĩa biến dịch, bất dịch và giản dịch. Có thuyết khác đọc chữ này theo hình con thằn lằn hay theo hình mặt trời và mặt trăng, nhưng đều là giả thuyết về tự hình.
Quẻ số có phải là bằng chứng Kinh Dịch xuất hiện từ đời Thương?
Quẻ số cho thấy thực hành bói ghi bằng nhóm số đã có từ cuối Thương. Nhưng văn bản lời quẻ, lời hào của Chu Dịch thì phần lớn học giả đặt vào khoảng Tây Chu. Bói bằng quẻ có trước, sách Dịch như ta biết có sau.