Âm dương gia là một trong các học phái thời Chiến Quốc, chủ trương giải thích trời đất, lịch sử và chính sự bằng sự vận hành của âm dương và ngũ hành; nhân vật tiêu biểu là Trâu Diễn người nước Tề, sống khoảng thế kỷ III trước Công nguyên. Toàn bộ sách của học phái này đã mất, nên những gì biết về nó đều qua lời người khác, chủ yếu là Sử ký của Tư Mã Thiên và Hán thư của Ban Cố.
Nghịch lý của Âm dương gia là: học phái thì biến mất, còn tư tưởng thì thắng. Đến đời Hán, gần như mọi trường phái, từ Nho đến Đạo, đều dùng khung âm dương ngũ hành mà nhóm này góp phần dựng lên. Bài này dựng lại chân dung học phái từ các nguồn còn lại, đồng thời chỉ rõ chỗ nào là ghi chép, chỗ nào là suy đoán của học giới.
Tên gọi "Âm dương gia" ra đời muộn hơn học phái
Người thời Chiến Quốc không tự gọi mình là "Âm dương gia". Cái tên này do người đời Hán đặt khi tổng kết lại các dòng tư tưởng trước đó. Văn bản phân loại sớm nhất thường được dẫn là bài Luận lục gia yếu chỉ của Tư Mã Đàm, cha của Tư Mã Thiên, chép ở cuối Sử ký. Bài này chia học thuật thành sáu nhà: Âm dương, Nho, Mặc, Danh, Pháp và Đạo đức, tức Đạo gia.
Đến Hán thư, phần Nghệ văn chí dựa trên thư mục của cha con Lưu Hướng, Lưu Hâm, sách được xếp thành "chín lưu mười nhà", trong đó có Âm dương gia, kèm danh sách các bộ sách mang tên Trâu Tử và nhiều tác giả khác. Hầu hết các bộ sách trong danh sách ấy nay không còn.
Như vậy, khi nói "Âm dương gia", ta đang dùng một nhãn hồi cố. Nhãn này hữu ích để gom một nhóm ý tưởng, nhưng không nên hình dung một trường học có thầy trò, giáo trình, môn quy chặt chẽ như ta hình dung về Nho gia hay Mặc gia.
Trâu Diễn qua lời Tư Mã Thiên
Ghi chép chính về Trâu Diễn nằm trong thiên Mạnh Tử Tuân Khanh liệt truyện của Sử ký. Đây là điều đáng chú ý: Tư Mã Thiên không lập truyện riêng cho ông mà chép xen vào truyện của hai nhà Nho, và dành cho Trâu Diễn nhiều chữ hơn cho chính Mạnh Tử. Theo Sử ký, Trâu Diễn thấy các vua chư hầu ngày càng xa hoa, không chuộng đức, nên đi sâu quan sát sự tiêu trưởng của âm dương, viết các thiên về biến hoá kỳ lạ, với quy mô hơn mười vạn chữ.
Tư Mã Thiên tả phương pháp của ông: bắt đầu từ cái nhỏ đã kiểm nghiệm được, rồi suy rộng ra đến chỗ vô cùng. Về thời gian, ông kể từ đời mình ngược lên Hoàng Đế, rồi ngược nữa đến trước khi có trời đất. Về không gian, ông kể từ núi sông, cầm thú của Trung Quốc rồi suy ra những vùng mà người ta chưa từng thấy.
Sử ký cũng chép Trâu Diễn được các vua chư hầu trọng vọng hơn hẳn Khổng Tử, Mạnh Tử: đến nước Lương được vua ra tận ngoại thành đón; đến nước Yên, Yên Chiêu Vương cầm chổi đi trước dọn đường và dựng cung để thờ ông như thầy. Tư Mã Thiên kể chuyện này với giọng ngậm ngùi khi đặt cạnh cảnh Khổng Tử, Mạnh Tử bị lạnh nhạt, nên cũng cần đọc như một lời bình của sử gia.
Ba ý tưởng chính được gán cho Trâu Diễn
Ngũ đức chung thuỷ. Lịch sử vận hành theo năm đức tương ứng năm hành, đức sau thắng đức trước theo vòng tương khắc. Mỗi triều đại được một đức nâng đỡ, khi đức ấy suy thì triều đại mang đức kế tiếp lên thay. Đây là ý tưởng có ảnh hưởng chính trị lớn nhất, được Tần Thuỷ Hoàng áp dụng trực tiếp.
Đại cửu châu. Trâu Diễn cho rằng vùng đất mà người Trung Hoa gọi là "thiên hạ" thật ra chỉ là một châu, tên là Xích huyện Thần châu. Có chín châu như thế, mỗi châu có biển nhỏ bao quanh; chín châu lại hợp thành một đơn vị lớn có biển lớn bao bọc, và có chín đơn vị lớn như vậy. Trung Quốc chỉ chiếm một phần tám mươi mốt thế giới. Đây là một hình dung địa lý táo bạo vào thời ấy.
Âm dương làm chủ bốn mùa và chính sự. Các nguồn đời Hán cho thấy Âm dương gia đặc biệt chú trọng việc vua phải làm đúng theo mùa: mùa nào ban lệnh gì, kiêng việc gì. Ý tưởng này về sau thấy rõ trong các thiên Nguyệt lệnh của Lã Thị Xuân Thu và Lễ ký, dù không thể chứng minh trực tiếp là chép từ sách của Trâu Diễn.
Học cung Tắc Hạ và phương sĩ vùng Yên – Tề
Trâu Diễn là người nước Tề, và nhiều nguồn xếp ông vào nhóm học sĩ ở học cung Tắc Hạ, nơi nước Tề chiêu tập học giả các phái đến bàn luận, được cấp nhà ở và bổng lộc. Môi trường tranh luận đa phái này giúp hiểu vì sao tư tưởng âm dương ngũ hành dễ dàng thâm nhập sang các học phái khác: người ta học của nhau, cãi nhau và mượn khái niệm của nhau hằng ngày.
Vùng ven biển Yên – Tề cũng là đất của các phương sĩ, những người nói chuyện núi tiên ngoài biển, thuật cầu trường sinh. Sử ký trong phần chép về lễ phong thiện cho biết các phương sĩ vùng này truyền thuật của Trâu Diễn nhưng không hiểu thấu, chỉ dùng nó để tâng bốc, cầu cạnh vua chúa. Tư Mã Thiên phân biệt khá rõ giữa Trâu Diễn và đám người dựa vào tên ông.
Chi tiết này quan trọng với người đọc hôm nay. Ngay từ thời Hán, sử gia đã nhận ra sự khác nhau giữa một hệ thống suy luận về trời đất, lịch sử với các thuật lợi dụng hệ thống ấy để mưu cầu lợi riêng. Ranh giới này vẫn còn giá trị khi gặp những lời quảng cáo nhân danh "âm dương ngũ hành" ngày nay.
Tư Mã Đàm khen và chê Âm dương gia thế nào
Bài Luận lục gia yếu chỉ đánh giá từng nhà một cách cân đối. Với Âm dương gia, Tư Mã Đàm chê rằng học thuyết của họ quá chi li, nhiều điều kiêng kỵ, khiến người ta bị trói buộc và hay sợ hãi. Nhưng ông khen một điểm không thể bỏ: họ sắp xếp trật tự lớn của bốn mùa, mà trật tự ấy thì không thể làm trái.
Ông nói thêm, đại ý: mùa xuân sinh, mùa hạ lớn, mùa thu gặt, mùa đông cất là đạo lớn của trời; không thuận theo thì không có gì làm cương kỷ cho thiên hạ. Nói cách khác, Tư Mã Đàm giữ lại phần lịch pháp – nông thời của Âm dương gia và gạt đi phần kiêng kỵ.
Lời đánh giá này gần như là khuôn mẫu cho thái độ của giới trí thức Trung Hoa với âm dương ngũ hành suốt nhiều thế kỷ: chấp nhận nó như khung sắp xếp thời gian, mùa vụ, lễ nghi, nhưng nghi ngờ khi nó biến thành hệ thống kiêng cữ phủ lên mọi việc nhỏ. Ban Cố trong Hán thư cũng có ý tương tự khi cho rằng học phái này xuất phát từ chức quan coi thiên văn lịch pháp, cái hay là kính cẩn theo thời trời, cái dở là sa vào cấm kỵ, bỏ việc người mà theo quỷ thần.
Âm dương gia để lại dấu vết ở đâu
Sách của học phái đã mất, nhưng ý tưởng của họ lẫn vào nhiều văn bản còn lại. Bảng dưới liệt kê những nơi học giới thường chỉ ra dấu vết ấy; mức độ chắc chắn khác nhau tuỳ chỗ.
| Văn bản | Dấu vết | Mức chắc chắn |
|---|---|---|
| Lã Thị Xuân Thu, thiên Ứng đồng | Chuỗi triều đại ứng với Thổ, Mộc, Kim, Hoả và dự đoán đức Thuỷ sẽ đến | Cao, nội dung khớp với ngũ đức chung thuỷ |
| Thiên Nguyệt lệnh trong Lã Thị Xuân Thu, Lễ ký | Lịch hành chính theo mùa, mỗi mùa ứng một hành | Trung bình, giống tinh thần nhưng không có trích dẫn trực tiếp |
| Quản Tử, các thiên Tứ thời, Ngũ hành | Ghép chính sự với bốn mùa, năm hành | Trung bình, niên đại các thiên còn tranh luận |
| Hoài Nam Tử | Vũ trụ sinh thành từ khí, âm dương, thiên văn, địa lý | Trung bình, là tổng hợp nhiều nguồn |
| Xuân Thu phồn lộ | Âm dương ngũ hành đưa vào học thuyết chính trị | Cao về ảnh hưởng, thấp về trích dẫn trực tiếp |
Vì sách gốc đã mất, mọi nhận định "đây là tư tưởng của Trâu Diễn" trong các văn bản trên đều là suy luận. Học giả nghiêm túc thường viết "có thể bắt nguồn từ" hay "mang dấu ấn của", và người đọc nên giữ đúng mức dè dặt ấy.
Vì sao học phái mất mà tư tưởng còn
Có mấy lý do thường được nêu. Thứ nhất, Âm dương gia không có một hệ đạo đức hay một cộng đồng thực hành riêng như Nho gia với lễ nghi, Mặc gia với tổ chức chặt chẽ. Thứ nó có là một bộ khung giải thích, và bộ khung thì dễ bị người khác mượn. Khi Nho gia đời Hán, tiêu biểu là Đổng Trọng Thư, hấp thu âm dương ngũ hành, thì không còn lý do để duy trì một học phái riêng.
Thứ hai, phần kỹ thuật của Âm dương gia, như lịch pháp, quan sát thiên văn, chọn ngày, được chuyển vào các chức quan và các nghề chuyên môn của triều đình. Nó sống tiếp dưới dạng tri thức nghề nghiệp, không cần danh nghĩa trường phái.
Thứ ba, chính sự thành công chính trị của thuyết ngũ đức khiến nó trở thành tài sản chung của các triều đại, không còn thuộc về ai. Đến khi người ta muốn đọc lại sách gốc của Trâu Diễn thì sách đã thất lạc trong các đợt binh lửa và thay đổi chữ viết. Người đọc hôm nay vì vậy chỉ thấy Âm dương gia qua tấm gương của người khác, và nên nhớ tấm gương nào cũng có độ cong.
Câu hỏi thường gặp
Âm dương gia có phải là một tôn giáo không?
Không. Âm dương gia là một học phái tư tưởng thời Chiến Quốc, chủ yếu suy luận về vận hành của trời đất, lịch sử và chính sự. Nó không có thần điện, giáo đoàn hay nghi lễ riêng. Một số phương sĩ đời sau mượn tên Trâu Diễn để làm thuật cầu tiên, nhưng Tư Mã Thiên đã phân biệt họ với Trâu Diễn.
Trâu Diễn sống năm nào?
Không có năm sinh năm mất chắc chắn. Các nguồn thường xếp ông vào khoảng thế kỷ III trước Công nguyên, sống sau Mạnh Tử một chút. Một số tài liệu đưa ra mốc cụ thể nhưng đều là ước đoán dựa trên các vị vua mà Sử ký nói ông từng gặp, và các mốc ấy cũng không hoàn toàn khớp nhau.
Có thể đọc sách của Trâu Diễn ở đâu?
Không thể, vì sách của ông đã mất từ lâu. Hán thư Nghệ văn chí còn ghi tên các bộ sách mang tên Trâu Tử, nhưng nội dung không truyền lại. Những đoạn hay được giới thiệu là tư tưởng Trâu Diễn đều là lời thuật lại của Sử ký hoặc suy đoán từ các sách như Lã Thị Xuân Thu.
Âm dương gia và ngũ hành ai có trước?
Ý niệm về năm loại vật chất, năm vị, năm sắc đã có trước Trâu Diễn, ví dụ trong thiên Hồng Phạm của Thượng thư và trong Tả truyện. Công của Âm dương gia, theo cách hiểu phổ biến, là ghép âm dương và ngũ hành vào cùng một hệ thống rồi dùng nó để giải thích lịch sử và chính sự.
Thuyết đại cửu châu có gần với địa lý thật không?
Không thể coi là địa lý thật, vì Trâu Diễn không có số liệu đo đạc các vùng xa. Điểm đáng quý là thái độ: ông dám cho rằng thế giới rộng hơn rất nhiều so với vùng đất người Trung Hoa biết, và Trung Quốc chỉ là một phần nhỏ. Đây là một suy đoán mang tính tưởng tượng có phương pháp, không phải bản đồ.
Tại sao Tư Mã Thiên chép Trâu Diễn trong truyện Mạnh Tử?
Tư Mã Thiên dùng truyện Mạnh Tử Tuân Khanh để nói về nhiều học sĩ Tắc Hạ và các nhà tư tưởng cùng thời. Đặt Trâu Diễn cạnh Mạnh Tử giúp ông tạo đối chiếu: một người giữ đạo nhân nghĩa bị lạnh nhạt, một người nói chuyện âm dương biến hoá được trọng vọng. Đó vừa là chép sử vừa là lời bình.